SỰ THIÊN LỆCH (BIAS) VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ ĐỐI VỚI  TÍN ĐỘ (RELIABILITY) VÀ HIỆU ĐỘ (VALIDITY) TRONG DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ DIỆN MẠO VÀQUÊ HƯƠNG CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI DO WILLIAM JOINER CENTER ĐỀ NGHỊ THỰC HIỆN
                                                                                                              Nguyễn Thanh Liêm

[Bài viết này chỉ tựa trên bản dự án ROCKEFELLER FOUNDATION HUMANITIES FELLOWSHIP --  UMASS BOSTON PROGRAM PLAN  và các đề án đệ nạp cho William Joiner Center (WJC) của hai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến chớ không đề cập đến những bài viết của hai ông đăng trên báo chí. Người viết bài này cũng không thấy hay được đọc bất cứ một bản tường trình (report) nào về kết quả nghiên cứu của WJC.]

* * *

 Nhan đề (title) của dự án nghiên cứu được ghi là “(Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora,” (WJC dịch ra tiếng Việt là “Diễn trình (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài”). Nhan đề như đã ghi cho thấy đây là một dự án nghiên cứu khoa học, liên hệ tới nhiều khoa học trong lãnh vực xã hội như tâm lý học (psychology), xã hội học (sociology), chính trị học (political science), tâm lý-xã hội học (sociopsychology), chủng tộc học (ethnology), văn hóa nhân loại học (cultural anthropology). . . . Trong khoa học, dù là khoa học xã hội, công cuộc nghiên cứu cũng đòi hỏi phải có tính cách khoa học, khách quan (objective), tránh thiên lệch (bias), có tín độ (reliability) và hiệu độ (validity) vững chắc thì kết quả nghiên cứu mới thật sự có giá trị, mới đáng được công bố trong lãnh vực học đường và kinh viện. Bất cứ phương pháp áp dụng trong việc nghiên cứu là phương pháp gì, định lượng (quantitative) hay định phẩm (qualitative), thực nghiệm (experimental) hay mô tả (descriptive), công cuộc nghiên cứu vẫn phải tôn trọng những luật lệ khoa học, nhất là về phương diện tránh thiên lệch để giữ tính khách quan, nâng cao tín độ và hiệu độ trong phương pháp áp dụng. Có như vậy thì giá trị khoa học thật sự của kết quả nghiên cứu mới được bảo đảm.
Dự án nghiên cứu khoa học thường phải bao gồm những phần chính yếu như :(1) đặt vấn đề (problem) nghiên cứu thật rõ ràng, (2) giới hạn (limits) của công cuộc nghiên cứu, (3) duyệt qua các tài liệu liên hệ (review of literature), (4) định nghĩa (definition) các từ ngữ then chốt (key words), định nghĩa hoạt động (operational definitions) những biến số (variables), những constructs nếu có, (5) mô tả dân số của công cuộc nghiên cứu (population of the study), nói rõ nhóm mẫu (sample) và cách thức lựa chọn nhóm mẫu (sampling method), (6) phương pháp, phương tiện (means, facilities), dụng cụ (tools, instruments), sử dụng để thu thập dữ kiện (data collection), (7) phương pháp phân tích dữ kiện (data analysis), và (8) kết quả tìm thấy. 
 
            Nhan đề đã nói khá rõ trọng tâm của vấn đề mà WJC đưa ra để khảo sát nhưng thay vì làm dự án nghiên cứu thẳng vấn đề đặt ra, WJC lại phân chia chương trình nghiên cứu này thành ba năm, mỗi năm có một chủ đề khác. Chủ đề của từng năm được ghi như sau:
- Năm thứ nhất (2000-2001) : Khảo sát những quan điểm hình thành lịch sử Việt Nam (Examining Constructions of Vietnamese History).
- Năm thứ hai (2001-2002) : Khảo sát những tiếng nói của người Việt ở nước ngoài qua Văn học, Ngôn ngữ, Văn hóa (Emerging Diasporic Voices: Exploring Vietnamese Literature, Language, and Culture in the Diaspora).
- Năm thứ ba (2002-2003) : Diễn trình (tái) xây dựng diện mạo và quê hương của người Việt ở nước ngoài : một cái nhìn dài hạn ((Re)constructing of Vietnamese Identity and Place in the Diaspora : A Long Term Perspective).


Vấn đề (problem) chính đặt ra khá rõ ràng nhưng khi vấn đề chính này phải đem xuống năm thứ ba mới bắt đầu, và chen vào hai năm đầu một số những chủ đề khác không hiển nhiên liên quan mật thiết tới vần đề chính làm cho cách thức đặt vấn đề trong dự án nghiên cứu trở nên hàm hồ (ambigous), mất đi tính cách chính xác rõ ràng. Tại sao không nghiên cứu thẳng vấn đề ngay từ năm thứ nhất mà phải đợi đến năm thứ ba? Còn hai chủ đề của năm thứ nhất và năm thứ hai liên hệ thế nào tới chủ đề chính? Nếu đọc chi tiết bản chương trình nghiên cứu của WJC thì sẽ thấy chủ đề thật sự của năm thứ nhất là tìm hiểu xem sự khác biệt trong các quan niệm về lịch sử Việt Nam đã ảnh hưởng thế nào đến sự xây dựng căn cước của người Việt hải ngoại? Còn chủ đề của năm thứ nhì thì nhắm vào tiếng nói mới nổi lên (emerging voices) vềø căn cước của người Việt trong văn học hải ngoại. Hai chủ đề này liên hệ thế nào với chủ đề chính? Người viết ra dự án có thể giả định (assume) rằng căn cước của người Việt hải ngoại do hoàn cảnh lịch sử tạo nên, tức là mặc nhiên xác định là có liên hệ nhân quả giữa lịch sử và căn cước. Hoàn cảnh lịch sử rối ren, chia cắt, phân hóa của đất nước trước đây đã đưa đến một căn cước chia cắt, phân hóa của tập thể người Việt. Căn cước phân hóa đó được thể hiện trong văn học hải ngoại. Bây giờ khi hoàn cảnh lịch sử thuận lợi (như sự đổi mới ở Việt Nam, sự nối lại liên hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam), người Việt có thể tái xây dựng căn cước của mình, làm nên một căn cước chung với người trong nước. Tựa trên giả định đó người viết ra dự án ba năm này muốn có một nền móng vững chắc cho việc tái xây dựng căn cước và quê hương trong năm thứ ba. Nền móng vững chắc đó là lịch sử Việt Nam mà từ đó căn cước dân tộc được hình thành (đề tài của năm thứ nhất), và cái căn cước khủng hoảng hay chia cắt, phân hóa của người Việt hải ngoại mà văn học hải ngoại đã thể hiện gần đây (đề tài của năm thứ hai). Khi có nền móng vững chắc đó rồi thì bước sang bước thứ ba là tái xây dựng căn cước và quê hương theo hướng đi quy định bởi nền móng.


Với cách đặt vấn đề nghiên cứu trong ba năm như vậy, và tựa trên một số giả định như thế, người làm ra dự án đã cho thấy bước đầu thiếu khách quan, thiếu vô tư  của mình. Người đẻ ra dự án đã thiên lệch (bias), đã nghiên về phía chủ trương hòa hợp theo đường hướng của chính phủ Việt Nam hiện nay. Có thể họ không phải là Cộng Sản nhưng họ chấp nhận quan điểm của Cộng Sản về lịch sử Việt Nam, về chủ trương đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc thể hiện sau này trong các nghị quyết của chính phủ về chính sách đối xử với Việt kiều (Nghị Quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị). Quan điểm lịch sử này cho rằng chiến tranh Việt Nam là chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (Cộng Sản) chớ không phải là chiến tranh giữa người Việt Quốc Gia của Miền Nam tự do với người Việt Cộng Sản ở Miền Bắc. Chiến tranh Việt Nam do đó phải được định danh là chiến tranh Việt Mỹ (Vietnam-American War). Đó là quan điểm của Cộng Sản và cũng là của một số người thiên cộng. Nhưng đó không phải là quan điểm của nhiều người trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Chủ đề ở đây nhắm vào việc tái xây dựng căn cước của cả tập thể người Việt ở hải ngoại. Cả tập thể này bao gồm nhiều lứa tuổi, nhiều hạng người (trình độ học vần khác nhau, nghề nghiệp khác nhau), nhiều khuynh hướng chính trị và quan điểm lịch sử khác nhau nhưng phần đông trong tập thể đó là những người phải rời bỏ quê hương của họ ở Miền Nam Việt Nam sau khi Miền này bị Cộng Sản xăm chiếm. Họ là những người Quốc Gia xa lánh nạn/chế độ cộng sản, từ đợt tị nạn đầu (first wave refugees) hồi 1975 đến đợt thuyền nhân (boat people), đợt bảo lãnh và cựu tù nhân chính trị (chương trình HO) sau này. Phần đông những người này quan niệm chiến tranh Việt Nam là chiến tranh giữa người Việt Quốc Gia tự do (ở Miền Nam) và người Việt Cộng Sản (ở Miền Bắc), phía bên này có sự yểm trợ của Mỹ và một số các nước tự do khác, và phía bên kia có sự yểm trợ của Nga sô, Trung Cộng và một số các nước cộng sản khác. Năm 1975 người Việt Cộng Sản ở Miền Bắc đã dùng sức mạnh quân sự xâm chiếm hết Miền Nam. Đó là sự thật lịch sử theo đa số người tị nạn. Trong khi đó thì trong dự án nghiên cứu, WJC đã dùng chữ “Vietnam-American war” để chỉ chiến tranh Việt Nam. Trong cách sử dụng từ ngữ này, WJC đã cho thấy chỗ đứng của họ trong cái nhìn về lịch sử Việt Nam thiên hẳn về phía Cộng Sản. Chỗ đứng đó của WJC không hoàn toàn vô tư, khách quan đối với toàn thể người Việt hải ngoại. (Những người có cái nhìn về lịch sử theo quan điểm đó là những người đã từng chống đối việc người Mỹ tham chiến ở Việt Nam, chống việc Mỹ giúp người Việt quốc gia chống lại cộng sản . Họ là những người kêu gọi chống chiến tranh ở Việt Nam (phản chiến) mà họ cho là do Mỹ gây ra hồi trước 1975, và cũng là những người sau 1975 kêu gọi người Việt hải ngoại quên hận thù, trở về quê hương, góp phần xây dựng tương lai đất nước theo xu hướng hòa hợp của Cộng Sản. Trong tập thể người Việt hải ngoại hiện nay có bao nhiêu người có chủ trương đó? Không ai biết chắc con số bao nhiêu. Nhưng tác giả dự án nghiên cứu thuộc nhóm người đó.) Từ chỗ đứng về một phía đó, WJC không thể xây dựng một dự án nghiên cứu khoa học khách quan, vô tư được.


Từ vị trí thiên lệch đó, người đề xướng ra dự án đã phác họa lý thuyết (theory) về tái xây dựng diện mạo và quê hương người Việt hải ngoại như sau để làm cái sườn (framework) cho lịch trình nghiên cứu:
Ở Việt Nam đã diễn ra nhiều xung đột về các vấn đề lớn của thế kỷ XX như xung đột giũa chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa quốc gia, giữa Đông và Tây, giữa các tôn giáo, giữa các chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tân thực dân, chủ nghĩa hiện đại hóa, giữa chiến tranh giải phóng và phản động (wars of liberation and counter-insurgency), cũng như những thành công, thất bại, cải cách, biến đổi của chủ nghĩa cộng sản. Những xung đột đódù đã để lại những vết hằn trong tâm tư người Việt. Nó cũng được thể hiện một cách có ý thức hay không có ý thức trong văn chương của người Việt hải ngoại. Đất nước bị phân hóa, chia cắt từng mảnh, căn cước của người tị nạn cũng bị phân hóa chia cắt từng mảnh, cộng đồng người Việt hải ngoại cũng bị phân hóa chia cắt từng mảnh. Câu hỏi đặt ra là liệu cái cộng đồng bị chia cắt từng mảnh đó có thể phát triển và bảo tồn một căn cước chung (collective identity) và một mục đích chung (common purpose) chăng? Câu trả lời ngầm là có thể được nếu trở về bản sắc truyền thống dân tộc đã có trong huyết quản người dân Việt tự ngàn xưa. Có những sự kiện, tài liệu văn chương, chương trình giáo dục, hay kiểu mẫu tổ chức cộng đồng nào có thể làm chất xúc tác cho những đối thoại và những khám phá sâu hơn về tình trạng phân hóa để từ đó đi đến sự tái xây dựng căn cước? Những sự việc lịch sử nào cũng như những điều kiện thuận lợi hiện có nào có thể giúp cho việc tái xây dựng căn cước và quê hương người Việt hải ngoại?  WJC cho rằng sự đổi mới ở Việt Nam từ 1986 và sự nối lại liên hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam gần đây là hoàn cảnh thuận lợi cho việc tái xây dựng căn cước và quê hương cho người Việt hải ngoại để họ có cùng căn cước chung với người trong nước, hướng về quê hương chung là Việt Nam, thực hiện công cuộc hòa hợp trong và ngoài nước. WJC cung ứng những điều kiện và phương tiện làm chất xúc tác để thực hiện công việc đó. Thành ra chương trình này không phải chỉ là một chương trình nghiên cứu lý thuyết nhằm tìm hiểu một vấn đề, một sự thật đang có, nó còn là một chương trình hướng về hành động thực tế, áp dụng những kết quả đã thu lượm trong công cuộc nghiên cúu. Lý thuyết (theory) căn bản làm nền cho những giả thuyết ở đây đúng ra là một chủ thuyết (doctrine) nhiều hơn là một lý thuyết khoa học. Chủ thuyết khác với lý thuyết ở chỗ chủ thuyết vẽ ra cái sẽ phải có (what it should be), trong khi lý thuyết nhắm vào cái thật sự đang có (what it is). Chủ thuyết này là chủ thuyết “hòa hợp” (conciliation) của Cộng Sản đề ra gần đây để chiêu dụ người Việt hải ngoại về hợp tác giúp xây dựng lại quê hương(1). Bởi đây là một chủ thuyết nên cần được bênh vực và chúng minh đúng (justify) chớ không phải là được đem ra để thử nghiệm (test) xem sự thật là như thế nào. Cái khung lý thuyết để nghiên cứu có thể được giản lược như thế này: Văn học hải ngoại thể hiện một căn cước phân hóa ở bên ngoài của người Việt hải ngoại nhưng bên trong vẫn tiềm ẩn một căn cước truyền thống dân tộc; điều kiện chính trị xã hội hiện nay cho phép xây dựng lại căn cước dân tộc cho người Việt hải ngoại giúp họ hòa hợp với người Việt bên trong nước, để cùng hướng về quê hương chung. Có ít nhất ba (3) điểm chính xem như những giả thuyết được đặt ra ở đây tựa trên khung lý thuyết này để được chứng minh qua các chủ đề của ba năm ghi trong dự án:
1)         Điều kiện xã hội/văn hóa thời xưa kia (X1) tạo nên căn cước truyền thống dân tộc (Y1) ở nơi mọi người dân Việt, thể hiện qua văn học cổ điển do người Việt hải ngoại soạn. Căn cước dân tộc Y1 luôn ở trong huyết quản của người Việt hải ngoại. Người nghiên cứu sẽ dùng tác phẩm văn hóa cổ điển để chứng minh X1 dẫn đến Y1, và Y1 luôn có trong huyết quản người Việt hải ngoại. (Chủ đề của năm thứ nhất).
2)         Điều kiện xã hội/văn hóa trong thế kỷ XX cho đến 1985 (X2), quan trọng nhất là chiến tranh Việt Nam và sự di tản khắp thế giới của người Việt Nam, tạo nên một thứ căn cước phân hóa (Y2) cho người Việt di tản thể hiện trong tác phẩm văn học hải ngoại. Người nghiên cứu ở đây sẽ dùng tác phẩm văn học chứng minh X2 dẫn đến Y2. (Chủ đề của năm thứ hai).
3)         Điều kiện xã hội/văn hóa sau 1986 (X3), từ sau đổi mới ở Việt Nam, tạo thuận tiện để dựng lại căn cước (Y1) cho người Việt hải ngoại để thực hiện hòa hợp. (Chủ đề của năm thứ ba).
  
Từ sự thiên lệch trong quan điểm lịch sử, và khung lý thuyết nghiên cứu nói trên trên, WJC đi đến sự thiên lệch trong việc lựa chọn (selection bias) người nghiên cứu, nhất là trong năm đầu của chương trình. Theo cái khung này chương trình cần có những học giả có tiếng của thuyết hòa hợp để khảo sát văn học hải ngoại cốt chứng minh cho có căn cước truyền thống dân tộc trong huyết quản cùng với căn cước phân hóa của người Việt hải ngoại để làm cơ sở vững chắc cho phần áp dụng tiếp theo là xây dựng lại căn cước và quê hương cho tập thể người Việt. Mặc dầu WJC có làm một số thủ tục công khai trong việc chọn người nhưng những thủ tục đó chỉ được dùng như một bề ngoài để che đậy ý định đã có sẵn từ trước là lựa chọn những người có cùng quan điểm mà WJC đã có liên hệ và đã nhắm vào từ trước. Đó là việc chọn lựahai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến từ Hà Nội sang để nghiên cứu một số đề tài căn bản trong năm đầu, hai người mà WJC đã giới thiệu như những học giả nổi tiếng ở trong và ở ngoài nước. Hai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến là hai học giả của Cộng Sản Hà Nội. Họ sinh ra ở Miền Bắc, lớn lên ở Miền Bắc, được xã hội hóa (socialized) trong xã hội cộng sản Bắc Việt, học chương trình học cộng sản Bắc Việt, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối học thuật cộng sản, làm việc nhiều năm trong chế độ cộng sản, sống cuộc sống rất là cộng sản. Cả quá trình giáo dục/đào luyện và sinh hoạt cộng sản đó không cho phép họ vượt qua được bầu trời cộng sản để nhìn đúng những gì xảy ra ở ngoài thế giới cộng sản. Bây giờ dù có đổi mới ở Việt Nam đi nữa, họ cũng chỉ là những người theo cái mới của chế độ cộng sản mà thôi. Cái mới đó là chủ trương đại đoàn kết, hòa hợp theo lý thuyết cộng sản. Chủ trương này cho là có căn cước truyền thống dân tộc trong huyết quản của người Việt hải ngoại, và nên dùng tư tưởng này để khêu gợi lòng yêu nước, yêu quê hương của người Việt hải ngoại, kêu gọi họ trở về nguồn, trở về quê hương xứ sở phụng sự cho dân tộc cho đất nước. Hai ông Chi và Hiến là những học giả của chủ trương đại đoàn kết, hòa hợp của Cộng Sản, đồng xu hướng với hướng nghiên cứu của WJC. Những đề án nghiên cứu mà họ đệ nộp cho WJC theo đúng cái khung lý thuyết vừa nói trên. WJC đã có liên hệ với Hà Nội từ lâu và đã có biết hai ông này trước khi công bố tuyển chọn người nghiên cứu cho dự án. Thành ra có thể xem như đây là lối tuyển chọn người theo cách có sẵn (available subject), người đã biết và đã có liên hệ sẵn, chớ không phải là một lựa chọn khách quan, công bằng. Trong khoa học xã hội khi dùng những gì có sẵn thì không thể đi đến kết quả vô tư, khoa học được. Dùng cái có sẵn là đầu mối của những sự thiên lệch tiếp nối theo sau.
Khi lựa chọn hai người này WJC đã cho thấy ý định khó che dấu của họ là muốn có những học giả cộng sản Bắc Việt, nhất là những người nắm vững lý thuyết hòa hợp, có tên tuổi trong giới học giả cộng sản, để chứng minh đúng hay biện minh (justify) cho những giả thuyết đã ghi trên, làm cho các giả thuyết đó trở thành những lý thuyết cơ bản làm nền móng vững chắc cho việc xây dựng lại căn cước và quê hương của người Việt hải ngoại. Nhiệm vụ quan trọng của hai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến là dùng thẩm quyền chuyên môn của họ để đặt nền móng cho xu hướng hòa hợp trong phần tái xây dựng căn cước. Công việc của hai ông này là cố chứng minh cho thấy chủ thuyết hòa hợp là đúng, chứ không phải là dùng phương pháp khoa học để thử nghiệm (test) xem những giả thuyết nêu trên có đúng hay không. Do đó tình trạng thiên lệch của nghiên cứu viên (investigator bias) nhất định không tránh được. Căn cứ trên đề án nghiên cứu đệ nạp cho WJC, dự án nghiên cứu của ông Nguyễn Huệ chi được ghi là “ Tìm hiểu các công trình nghiên cứu văn hóa và văn học cổ điển Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại.” Dự án này không đúng hẳn với chủ đề ghi cho năm thứ nhất là “khảo sát những quan điểm hình thành lịch sử Việt Nam.” Đây chỉ là dự án dùng công trình văn hóa/văn học hải ngoại để chứng minh cái căn cước cổ truyền dân tộc luôn luôn có trong huyết quản của người Việt hải ngoại. Nhan đề của dự án rất mông lung với hai chữ “tìm hiểu” nhưng thật ra nhà nghiên cứu chỉ tìm kiếm có một sự kiện là căn cước dân tộc, và tuy nói là qua tất cả các công trình nghiên cứu văn hóa và văn học cổ điển Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại nhưng trong thực tế nhà nghiên cứu không nắm vững được tất cả công trình đó là bao nhiêu, ở đâu, và người nghiên cứu có thể đọc được những gì? Không có những định nghĩa và giới hạn rõ ràng cho những chữ “căn cước dân tộc,” “văn hóa,” ”văn học,” “cổ diễn,” làm cho dự án trở nên rất hàm hồ, không có tính cách của một công trình nghiên cứu thật sự khoa học. Tuy nói một cách thật rộng rãi là “tìm hiểu”(theo nghĩa exploring) nhưng thật ra ở đây là tìm cách biện minh (justify) cho một ý tưởng đã có sẵn, và tuy bao quát hết các công trình văn hóa cổ điển nhưng trong thực tế chỉ chọn lựa (select) một vài quyển nào đó có liên hệ mật thiết tới điều mà ông Nguyễn Huệ Chi muốn biện minh thôi. Nhiệm vụ của ông này là làm sao chứng minh đúng giả thuyết số 1, tức là X1 dẫn đến Y1, và Y1 luôn luôn có trong huyết quản của người Việt hải ngoại như đã nêu trên trong khung lý thuyết nghiên cứu của WJC. Trong phần trình bày mục đích của dự án ông Nguyễn Huệ Chi đã cho thấy rõ điều đó khi ông viết:
“Dự án của chúng tôi chỉ nhằm triển khai một điểm trong bản đề cương phong phú (Re) Constructinbg Identity and Place in the Vietnamese Diaspora mà Trung tâm William Joiner thuộc Trường đại học Massachusetts – Boston đề ra: chúng tôi muốn tìm hiểu sâu vào cội nguồn văn hóa của người Việt ở hải ngoại thông qua mảng tài liệu đặc thù này. Việc tìm hiểu của chúng tôi nhằm góp phần giúp nhận diện sáng tỏ hơn cái “căn cước dân tộc” mà người Việt lưu vong dù muốn hay không vẫn mang trong huyết quản … . . .”
Qua nhan đề, qua mục đích, qua những từ ngữ sử dụng, ông Nguyễn Huệ Chi đã cho thấy dự án của ông không phải là một dự án nghiên cứu khoa học, khách quan để tìm đến sự thật, mà đây chỉ là một loại bình luận văn chương (literary essay) với nhiều tính chủ quan (subjectivity), thiên lệch (bias), với những ý tưởng tiền định (predetermined ideas) không chứng nghiệm được bởi những bằng chứng thực tề, chỉ có tính cách biện luận để bênh vực cho chủ thuyết hòa hợp của Cộng Sản mà thôi. Ông đã chủ quan và thiên lệch trong cách lựa chọn vấn đề để tìm hiểu (trong bao nhiêu vấn đề quan trọng cần tìm hiểu trong tác phẩm văn hóa cổ điển, nhà nghiên cứu chỉ “triển khai một điểm” là nhận diện cái “căn cước dân tộc”). Ông đã thiên lệch trong cách chọn lựa tác phẩm văn hóa/văn học để làm tài liệu nghiên cứu (ông ghi ra một danh sách các tác phẩm về văn hóa cổ điển tựa trên những trang quảng cáo nhặt được đây đó và nhận xét là số tác phẩm còn nhiều hơn nữa nhưng không biết rõ thật sự có bao nhiêu, không có một thư mục đúng nghĩa, không có một danh sách đầy đủ, không có nói cho biết là lựa chọn cách nào để làm tài liệu nghiên cứu, căn cứ trên tiêu chuẩn gì để lựa chọn tác phẩm, không thấy nói; chỉ thấy ông nói là “thông qua mảng tài liệu đặc thù này”). Đúng ra đây ông chỉ dùng tác phẩm có sẵn (available) và là tác phẩm mình muốn mà thôi, mà khi dùng cái có sẵn theo ý muốn của mình thì rất chủ quan, thiên lệch, không đúng tiêu chuẩn khoa học. Từ những chủ quan thiên lệch nói trên người nghiên cứu sẽ phải thiên lệch trong việc giải thích (interpretive bias) ý tưởng khi phân tích nội dung (content analysis) của tác phẩm lựa chọn.  Không thể dùng một ý nào đó (gọi là căn cước dân tộc) trong một vài quyển sách của một vài tác giả nào đó để suy rộng ra cho một sự kiện tâm lý (căn cước, diện mạo, bản ngã) của cả một tập thể hơn hai triệu người Việt hải ngoại (tức toàn thể dân số nghiên cứu (studied population)). Tổng quát hóa (generalization) hay quy nạp (induction) như vậy không có giá trị khoa học. Những phán xét (judgment) chủ quan, những xác định (confirmation) không căn bản khoa học chỉ có thể có giá trị được (nếu có được) trong lãnh vực bình luận văn chương (literary essay) mà thôi chứ không có giá trị gì cả trong lãnh vực khoa học.
 
Căn cứ vào đề án nghiên cứu đệ nạp cho WJC, dự án nghiên cứu của ông Hoàng Ngọc Hiến không nằm trong loại đề tài mà WJC đề ra cho năm thứ nhất mà lại liên hệ tới loại đề tài của năm thứ nhì và năm thứ ba nhiều hơn, mặc dù ông Hiến được WJC mời cộng tác trong năm thứ nhất. Có thể ông Hiến nghĩ rằng ông sẽ được cộng tác với WJC luôn ba năm chăng? Cho nên ông đã đưa ra đến 4 dự án chính và 2 dự án phụ mà nếu phải thực hiện đứng đắn, khoa học, thì không cách gì có thể hoàn tất trong 9 tháng. Cũng có thể ông Hiến muốn làm hết những gì mà ông Huệ Chi chưa làm trong dự án của WJC, nghĩa là ông phải ôm đồm, cùng một lúc chứng minh một loạt các khía cạnh cần thiết của sự hình thành căn cước phân hóa của người Việt hải ngoại ở bên ngoài với căn cước truyền thống dân tộc bên trong, và tất cả những điều kiện thuận lợi hiện nay để xúc tiến chủ trương hòa giải/hòa hợp mà chính phủ của ông đã đề ra? Oâng Hiến ghi bốn đề tài chính và hai đề tài phụ như sau:
Đề tài chính số 1 : Có những vấn đề nào, những chủ đề nào trong cuộc sống cộng đồng Việt kiều được các nhà văn và nghệ sĩ đặc biệt quan tâm và họ đã trình bày những vấn đề này, thể hiện những chủ đề này như thế nào trong tác phẩm của họ? (đề tài nhóm 2), (tức là đề tài của năm thứ hai của WJC)
Đề tài chính số 2: Những nhà văn và nghệ sĩ Việt kiều quan hệ với những bạn đồng nghiệp của họ ở trong nước như thế nào? (đề tài nhóm 2)
Đề tài chính số 3: Với số lượng Việt kiều về thăm quê hương ngày càng đông (qua du lịch) và sự hiểu biết của họ về đất nước ngày càng dễ dàng cập nhật (qua internet), những hình ảnh về Việt Nam đã thay đổi như thế nào và những người Việt trong nước cảm nhận về những Việt kiều về thăm nước như thế nào? (đề tài nhóm 3, tức là đề tài năm thứ ba của WJC).
Đề tài chính số 4:Ảnh hưởng của cộng đồng Việt kiều tới quê hương đất nước và ảnh hưởng của đất nước thời mở cửa tới cộng đồng Việt kiều (người nghiên cứu không ghi thuộc nhóm nào, nhưng người đọc có thể thấy đề tài này thuộc nhóm 3 hay năm thứ ba của WJC). 
Ngoài 4 đề tài chính trên đây, ông Hoàng Ngọc Hiến còn ghi thêm hai đề tài phụ: (1) Những nét truyền thống và những nét hiện đại ở những trí thức Việt kiều, và (2) Tinh thần khoan hòa và truyền thống Tam giáo đồng nguyên.
Ông Hiến dùng chữ Việt kiều để chỉ người Việt hải ngoại. Thêm một từ ngữ mới, không có trong dự án, và không được định nghĩa rõ ràng khiến cho, về phương diện nghiên cứu khoa học, người ta phải có cảm nghĩ rằng người nghiên cứu không mấy chú trọng vào sự chính xác trong cách sử dụng từ ngữ trong khoa học. Những đề tài nghiên cứu của ông xoay quanh các chủ đề chính là: thứ nhất là dưới cái căn cước khủng hoảng bề ngoài Y2 của người Việt hải ngoại còn có căn cước truyền thống dân tộc Y1, và thứ hai là xây dựng lại căn cước Y1 vì đã có điều kiện đổi mới ở Việt Nam. Mục đích chính của ông là hướng về hòa giải/hòa hợp và, cũng như ông Huệ Chi, ông cũng có nhiệm vụ chứng minh đúng các giả thuyết đã nói ở trên.
Mở đầu để đặt vấn đề cho dự án chính số 1, ông Hiến viết:
“Đọc thơ của những tác giả Việt kiều thì mới hình dung được sự bền vững của  căn cước dân tộc ở họ. Trải qua bao thăng trầm, gian truân, lớp vỏ bong đi, cái căn cước (bản sắc) được hình thành trong những năm tháng sống ở quê hương vẫn còn lại đó. . . .
Mà căn cước này không phải được đo bằng bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng sống ở quê hương, tuổi của nó là tuổi ngàn năm đến từ buổi sơ sinh.”
Với những đề tài ghi ra để nghiên cứu ông “quan niệm có những điều kiện cần thiết thì nên gắn các đề tài với nhiệm vụ hòa giải,”vì đây là “một nhiệm vụ cụ thể quan trọng của đề tài.” Trong đề tài chính số 1, tuy vấn đề ông đặt ra thật rộng rãi là “những vấn đề nào, những chủ đề nào trong cuộc sống cộng đồng Việt kiều được các nhà văn và nghệ sĩ đặc biệt quan tâm. . .” nhưng thật ra dự án nghiên cứu của ông không nhằm tìm câu giải đáp cho vấn đề rộng rãi được đặt ra mà chỉ nhằm đi tìm những bằng chứng để chứng minh cho căn cước truyền thống dân tộc và tình yêu quê hương ở dưới cái vỏ căn cước phân hóa của người Việt hải ngoại thể hiện trong một số tác phẩm văn chương nào đó thôi. Ông Hiến viết: “Tôi chọn hai chủ đề sau đây: tình yêu (nam nữ) và tình cảm gắn bó với quê hương đất nước (chủ đề trung tâm). . .Tình yêu hoặc hồi ức về tình yêu có khi là một bộ phận của tình cảm gắn bó với quê hương.”
Phương pháp nghiên cứu của ông trong dự án là: (1) đọc các sáng tác thơ, văn có liên quan đến đề tài này của Việt kiều (tham khảo những tác phẩm họa, nhạc), (2) phỏng vấn, tiếp xúc với những trí thức Việt kiều, trước hết là những người ông đã có dịp làm quen và đối thoại trong chuyến đi thăm Hoa Kỳ hồi cuối năm 1995.     
Với phương pháp (1) ông Hiến cũng chỉ làm công việc bình luận văn chương theo kiểu ông Huệ Chi như đã nói ở trên. Ông cũng chủ quan, thiên lệch trong sự lựa chọn đề tài (selection bias), lựa chọn tác phẩm làm tài liệu nghiên cứu nghĩa là thiên lệch trong cách thức lựa chọn nhóm mẫu (sampling bias), thiên lệch trong cách giải nghĩa nội dung tác phẩm (interpretive bias), và do đó cũng không có một căn bản khoa học nào để tựa trên đó mà xác định một cách tổng quát cái căn cước truyền thống dân tộc và tình yêu quê hương của cả tập thể người Việt hải ngoại theo đúng cái khung lý thuyết hòa hợp của WJC. Ông Hiến còn thêm phương pháp (2) là phỏng vấn. Dĩ nhiên phỏng vấn là một phương pháp khoa học rất thường được dùng trong khoa học xã hội. Nhưng phải theo đúng phương pháp khoa học thì kết quả phỏng vấn mới có giá trị. Phỏng vấn trong khoa học đòi hỏi phải chú trọng đến hai điểm then chốt này: (1) hỏi cái gì, và (2) hỏi ai? Về điểm “hỏi cái gì” người nghiên cứu phải lưu ý tới tín độ (reliability) và hiệu độ (validity) của các câu hỏi, và về điểm “hỏi ai” thì người nghiên cứu phải lưu ý tới cách thức lựa chọn nhóm mẫu (sampling method). Nếu câu hỏi không đáng tin cậy và chỉ xoay quanh chủ thuyết hòa hợp thì câu trả lời cũng sẽ chẳng đem lại thêm những hiểu biết gì ngoài chủ thuyết hòa hợp, hoặc chỉ có giá trị bình luận để bênh vực cho chủ thuyết của người nghiên cứu. Nếu chỉ lựa chọn những người cùng phe nhóm mình, hay những người có sẵn (available subjects) để phỏng vấn thì câu trả lời của họ chỉ có giá trị cho nhóm nhỏ đó thôi chớ không thể đại diện (representative) cho toàn thể, và như vậy không thể tổng quát hóa ra cho nhiều nhóm khác được. Ngoài ra trong các cuộc phỏng vấn, nhất là phỏng vấn người quen, thường xảy ra hiện tượng       “ trả lời để lấy lòng”(social desirability) nghĩa là trả lời cho đúng với ý muốn của người hỏi hơn là trả lời đúng điều mình nghĩ. Người làm cuộc phỏng vấn phải nắm vững kỹ thuật làm sao để tránh tình trạng “trả lời để lấy lòng.” Không thấy ông Hiến nói gì đến kỹ thuật và phương pháp phỏng vấn khoa học cả. Thành ra kết quả phỏng vấn của ông hết sức đáng nghi ngờ.
Nhìn chung những đề tài chính và phụ của ông Hiến cũng như phương pháp làm việc của ông người ta thấy ngay đây không phải là công trình nghiên cứu khoa học. Đây chỉ là công việc bình luận văn học (literary essay) cốt đào bới vào một số sách quen của những người có cùng xu hướng văn hóa/chính trị với mình, hay dùng lối tiếp xúc gọi là phỏng vấn với những người bạn hay người quen biết có sẵn (available) của mình để khai thác những điều cần thiết dùng để chứng minh cho chủ thuyết hòa hợp. Chính ông Bowen, giám đốc William Joiner Center, trong bức thư trả lời hội Y KhoaViệt Nam, cũng xác nhận điều đó khi ông viết: “As for the two scholars from Vietnam, neither Dr. Hoang Ngoc Hien nor Professor Nguyen Hue Chi are engaged in sociological studies of the diaspora population, nor are they involved in writing the history of the Vietnamese refugee community. Dr. Hien is studying the major texts of the Overseas Writing from 1975 to 2000, with particular emphasis on the subjects of love and attachment to the land and working on a literary essay related to the subject.”(2) (tạm dịch: Còn về hai học giả đến từ Việt Nam thì cả Tiến sĩ Hoàng Ngọc Hiến và Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đều không dấn thân vào công cuộc nghiên cứu theo khoa học xã hội về dân số di tản. Họ cũng không làm công việc viết lịch sử cộng đồng Việt Nam tị nạn. Tiến sĩ Hiến đang nghiên cứu các tác phẩm văn học chính ở hải ngoại từ năm 1975 đến 2000, với sự chú ý đặc biệt vào đề tài tình yêu và sự gắn bó với quê hương và đang viết bài bình luận văn chương liên hệ tới đề tài này). 
Chương trình nghiên cứu của WJC không nhằm mục đích tìm hiểu và giải thích sự kiện một cách khoa học, chương trình này chỉ được dựng lên để bênh vực và cổ xúy cho chủ thuyết hòa hợp. Nó không có giá trị khoa học, nó đã thiên lệch, đã không khách quan ngay từ bước đầu, từ chỗ đứng để đặt vấn đề. Những từ ngữ then chốt (key words) không được định nghĩa rõ ràng khoa học để người nghiên cứu biết được loại dữ kiện nào cần thu thập, dùng những phương tiện và phương cách nào thích hợp để thu thập, và dùng phương pháp gì để phân tích dữ kiện? “Identity” là đề tài rất được các nhà khoa học về xã hội (từ tâm lý học, xã hội học, tâm xã hội học, đến các môn văn hóa nhân loại học) đặc biệt chú trọng trong những thập niên gần đây, nhất là khi ý niệm identity được khai thác mạnh trong địa hạt chính trị (3). Nhưng identity là một ý niệm rất phức tạp. Hiểu một cách thông thường thì identity là cái căn cước. Về phương diện vật chất, identity là căn cước cho phép người ta nhận diện một người qua hình ảnh và những nét đặc thù về thể xác, nhất là diện mạo của cá nhân người mang căn cước. Đó là cái thẻ căn cước có in hình ảnh của mỗi người. Về phương diện tâm lý xã hội/văn hóa, identity có thể được xem như căn cước tinh thần của một người, bao gồm một số đặc tính tâm lý xã hội/văn hóa của người đó như giống người/chủng tộc, quê hương xứ sở, giới tính, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, học lực, nghề nghiệp, tình trạng gia đình, v v. . . .Khi một người tự đồng hóa (identify) mình với những đặc tính nào đó thì những đặc tính đó là những đặc tính làm thành căn cước tinh thần của mình. Thí dụ khi bạn cho rằng bạn là người Việt Nam, sinh ra và lớn lên ở Miền Nam, bạn là người Quốc Gia, bạn là người theo đạo thờ ông bà, bạn là kỹ sư cơ khí, bạn có vợ, có hai con . . .thì căn cước của bạn bao gồm những đặc tính vừa kể mà bạn đã tự thấy mình gắn liền với nó. Những đặc tính đó làm nên căn cước tinh thần mà mỗi người tự nhìn thấy, tự dán vào cho mình. Nó có thể khác với căn cước tinh thần mà xã hội hay tha nhân bên ngoài gắn cho mình. Căn cước mà xã hội hay người bên ngoài nhìn thấy ở nơi mình có thể đúng nhưng cũng có thể không đúng với căn cước thật sự của mình. Căn cước tinh thần không dễ nhận ra như căn cước vật chất. Thí dụ căn cước của người làm gián điệp, cũng như của những người dấu kỷ bên trong của mình dưới một bên ngoài khác hẳn. Bộ áo không làm nên thầy tu như người mình thường nói. Người ta có thể trình diễn cái tôi của mình (presentation of the self) để cho công chúng thấy cái căn cước xã hội của mình theo cách thức mình muốn, nhưng không chắc gì đó là cái tôi thật sự trong cái căn cước thật sự của mình. Nó phức tạp ở chỗ đó, cho nên rất khó mà biết được một cách đầy đủ, chính xác căn cước tinh thần của một người.Ý niệm “căn cước” một mặt gắn liền với sự hình thành và phát triển của “bản ngã” (the self) trong lãnh vực tâm lý học, và mặt khác với xã hội/văn hóa qua tiến trình xã hội hóa (socialization) trong lãnh vực xã hội/văn hóa học. Cũng như những sự kiện tâm lý xã hội khác, căn cước của một người thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh/môi trường sinh sống. Có nhiều thuyết khác nhau được đưa ra để giải thích sự hình thành của ý niệm“căn cước.” Ngoài những thuyết chánh như thuyết nguyên thủy (primordialism), thuyết hoàn cảnh (circumstantialism), và thuyết tạo dựng (constructionism), còn có nhiều thuyết khác mới xuất hiện gần đây hơn như các thuyết hậu hiện đại (postmodernism), thuyết toàn cầu  (globalisation), thuyết siêu quốc gia (transnationalism), thuyết đa chủng tộc (multiethnicity), thuyết chủng tộc di tản (diaspora ethnicity)…. . . .Mỗi thuyết có cách giải thích khác nhau về ý niệm và sự thành hình của căn cước tinh thần của một người. Ngoài ra như đã thấy trên, căn cước tinh thần của một người thường bao gồm nhiều đặc tính, mỗi đặc tính là một bình diện, một mặt của căn cước. Identity có nhiều bình diện khác nhau. Trên bình diện giống người và chủng tộc có identity về giống người và chủng tộc, (có thể gọi là căn cước chủng tộc (racial/ethnic identity)), trên bình diện chính trị có identity về chính trị hay căn cước chính trị (political identity), trên bình diện tôn giáo có identity về tôn giáo (religious identity), v v. . . . Có những bình diện gắn chặt vào nhau không tách rời được khi đề cập đến căn cước của một người. Khó có một căn cước là người Việt Nam suông, mà thường phải là người Nam, người Bắc, người tị nạn, người công giáo, người Hòa Hảo,   v v. . . Chỉ dùng một bình diện như căn cước dân tộc không thôi mà không có một định nghĩa thật rõ ràng thì không đủ để nói hết căn cước thật sự của một người. Người làm văn hóa với mục đích chính trị thường khai thác căn cước dân tộc để khêu gợi lòng yêu nước, trở về với quê hương dân tộc của người di tản (4). Trong dự án nghiên cứu của WJC không thấy có định nghĩa về khái niệm identity đủ rõ ràng để người nghiên cứu có thể biết cần có những lọai dữ kiện gì và bằng những phương tiện thích hợp nào để thu thập các dữ kiện liên hệ.  
Chữ place cũng có nhiều nghĩa. WJC dịch là quê hương. Đúng ra chữ place chỉ nơi chốn, vị trí, hay nơi cư ngụ, hay địa điểm nào. Ở đây chữ quê hương được WJC dùng để dịch chữ place. Nhưng quê hương theo nghĩa nào? Quê hương có phải là quê cha đất tổ hay tổ quốc không? Quê hương là nơi mình được sinh ra, nơi mình đã lớn lên, đã một thời sinh sống hay nơi mình đang cư ngụ? Quê hương thứ nhất hay quê hương thứ hai? Hay là nơi nào mình nhận làm quê hương? Căn cước, nơi cư ngụ, và lịch sử luôn luôn gắn liền nhau. Khi nói “người đàng trong,” thì người ta biết ngay là người Việt Nam ở thời Nam Bắc phân tranh ở phía Nam của sông Gianh, cũng như khi ta nói người Việt tị nạn cộng sản ở Mỹ là ta biết ngay rằng đây là người Việt phải lìa bỏ Miền Nam chạy sang Hoa Kỳ sau khi Miền này bị Cộng Sản xâm chiếm. Chữ quê hương hay place ở đây cũng không được định nghĩa hay giải thích rõ ràng. 
Từ ngữ “người Việt nước ngoài” là từ ngữ thường được dùng trong xã hội cộng sản Bắc Việt. Người Việt Quốc Gia ở Miền Nam thường dùng chữ người Việt hải ngoại hơn là người Việt nước ngoài, để dịch chữ overseas Vietnamese. Chữ diaspora có ý nghĩa khác hơn là chỉ ở nước ngoài (overseas Vietnamese). Diaspora còn bao hàm ý nghĩa phải tản mát sinh sống khắp nơi ở nước ngoài vì hoàn cảnh đặc biệt nào đó khiến không thể sống được ở nơi chôn nhau cắn rốn. Đây là danh từ đầu tiên được dùng để chỉ hiện tượng phải tản mát sinh sồng ở nước ngoài của người Do Thái từ mười mấy thế kỷ trước. Từ đó danh từ được dùng để chỉ hiện tượng di cư ra khỏi nước mình để sống tản mát khắp nơi trên thế giới vì hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Aùp dụng cho người Việt Nam, chữ diaspora chỉ những người Việt Nam sống tản mát nơi xứ người, mà trong đó đại đa số là người Việt ở Miền Nam tự do phải lìa bỏ quê hương xứ sở ra đi sau biến cố lịch sử 1975, lúc Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Họ là những người tị nạn cộng sản, tị nạn chính trị, họ là những người refugees mà cả thế giới đều biết. Chữ Vietnamese diaspora hay người Việt nước ngoài theo WJC cũng không được định nghĩa hay giải thích rõ ràng.       
Chữ (re)constructing mà WJC dịch là diễn trình tái xây dựng cũng có phần hàm hồ (ambigous), không rõ ràng. Khi một sự việc S xảy ra vào thời điểm T cho một người rồi thì nó đã trở thành quá khứ, trở thành lịch sử đối với người đó. Bây giờ nếu người đó nhớ lại sự việc S thì về phương diện tâm lý nhà khoa học xem đó như sự kiện tái xây dựng lại sự việc trong tâm tư chớ không phải là đúng thật sự việc S đã diễn ra hồi thời điểm T. Sự việc được tái dựng lại là S’. Nó (S’) có thể giống sự việc S 100% hay khác đi nhiều hay ít tùy nhiều yếu tố (như thời gian, cường độ nhận thức..). Hiểu theo nghĩa đó thì diễn trình tái xây dựng là diễn trình (process) do chính các chủ thể (subjects) thực hiện chứ không do một quyền lực nào bên ngoài tạo nên. Và diễn trình này không nhất thiết phải đem lại sự việc S của thuở ban đầu. Cũng theo nghĩa đó thì diễn trình tái xây dựng phải tựa trên giả định (assumption) là cái căn cước của người tị nạn đã bị mất đi, hay bị sai lạc, hay chưa đúng, hay thế nào đó trong quá khứ cho nên bây giờ người tị nạn phải làm công việc tái xây dựng nó lại. Nhưng giả định này không thấy được nêu ra mặc dù trên nguyên tắc nghiên cứu khoa học các giả định đều phải được phát biểu rõ ràng. Mặt khác reconstructing cũng có thể hiểu là công việc làm của nhà nghiên cứu, của nhà chính trị/văn hóa/giáo dục đã đẻ ra dự án nghiên cứu, là thu lượm những mảnh vụn hay những đặc tính nào đó trong căn cước của người tị nạn rồi dựng nó lại làm thành căn cước mới theo ý muốn của nhà nghiên cứu hay của người chủ đẻ ra dự án đó? Cần có định nghĩa hoặc giải thích rõ ràng để tránh những nhầm lẫn.
Theo như nhan đề đã ghi thì dân số (population) của công cuộc nghiên cứu là Vietnamese diaspora, tức là tất cả người Việt sống tản mát trên khắp thế giới, ngoài Việt Nam. Dân số đó là bao nhiêu, ở đâu, có những đặc tính gì, có những con số thống kê (statistics) nào liên hệ? Trong phần duyệt qua các tài liệu (review of literature), WJC có ghi con số thống kê vào năm 1990 là 650,000 người ở Mỹ và khoảng 350,000 ở các nước Pháp, Úc và Gia Nã Đại. Cũng theo WJC con số này chưa kể số người Việt gốc Hoa bị trục xuất khỏi Việt Nam, và con số này gia tăng hằng năm với những người qua sau cũng như những người mới sinh ở hải ngoại. Nhưng khi dự án nghiên cứu thành hình (khoảng năm 2000) thì con số này được bao nhiêu không thấy nói. Chủ đề nào cũng cho thấy dân số nghiên cứu (studied population) là cả tập thể người Việt hải ngoại (overseas Vietnamese, hoặc Vietnamese diaspora), nhưng không hề đề cập đến nhóm mẫu (sample) là bao nhiêu và gồm có những ai, và dùng phương cách gì để lựa chọn nhóm mẫu. Trong khoa học xã hội, nếu nhóm mẫu quá nhỏ (small sample) , phương pháp lựa chọn (sampling method) không đúng cách, hoặc thiên lệch, thì nhóm mẫu không có tính cách đại diện (representative) cho toàn thể dân số và như vậy kết quả nghiên cứu không thể tổng quát hóa (generalized) cho toàn thể dân số được. Đối với tác phẩm văn học cũng vậy, không thể chỉ lựa chọn một ít tác phẩm văn học có sẵn hay quen biết nào đó để đọc rồi cho rằng đó là các công trình văn hóa hay văn học hải ngoại được. Tất cả tác phẩm văn học hải ngoại là bao nhiêu, ở đâu, người nghiên cứu văn học hải ngoại có biết không? Những tác phẩm đó viết về cái gì nhà nghiên cứu có nắm vững không? Giả dụ như hiện có 2000 tác phẩm văn học hải ngoại, và người nghiên cứu về tình yêu chỉ lấy 10 tác phẩm (có sẵn) của vài tác giả thường viết về tình yêu mà người nghiên cứu có quen biết trước, đọc qua các tác phẩm đó rồi kết luận rằng các công trình văn học hải ngoại thường chú trọng vào tình yêu hơn hết thì kết luận đó của nhà nghiên cứu rất đáng nghi ngờ, nó không đứng vững, không có tính cách khoa học. Trước hết chỉ lựa lấy nhóm mẫu 10 quyển trên toàn thể dân số 2000 quyển thì nhóm mẫu quá nhỏ (chỉ có 0.5%), cách lựa chọn lại thiên lệch, không có tính cách ngẫu nhiên (random), chỉ lựa chọn theo cách biết trước và có sẵn (availability), thành ra nhóm mẫu không đủ giá trị xác suất (probability), không thể đại diện cho toàn thể dân số được. Chỉ khai thác có một đề tài mà không đề cập đến những đề tài khác thì thiếu trung thực. Và đây là trường hợp thiếu giá trị hiệu lực (validity) cả bên trong (internal validity) lẫn bên ngoài (external validity) để có thể đi đến tổng quát hóa (generalization) một cách khoa học.
Lấy tâm trạng băn khoăn, chán nản, nổi loạn, nhớ quê hương của một nhà thơ, hay một tiểu thuyết gia trong một thời điểm nào đó, trong một tác phẩm nào đó của họ để từ đó suy ra tâm trạng thường xuyên của cả tập thể người Việt hải ngoại thì quả thật hết sức sai lầm về phương diện khoa học. Dùng một vài đoạn văn trong tiểu thuyết hay vài ba câu thơ diễn tả tâm trạng nhớ quê hương để xác nhận rằng đó là căn cước dân tộc, là truyền thống văn hóa, là tình yêu quê hương, là tiếng nói của tập thể người Việt hải ngoại thì thật là một việc làm thiếu khoa học, một lối quy nạp vô căn cứ và do đó không có giá trị gì cả trong lãnh vực nghiên cứu khoa học . Tiểu thuyết và thơ nằm trong bộ môn văn chương nghệ thuật, tựa trên tưởng tượng và rất chủ quan. Ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ súc tích với nhiều hình ảnh (images) văn chương chớ không phải ngôn ngữ chính xác của khoa học. Tiểu thuyết mang tính giả tưởng (fiction), nó không phải là một công trình quan sát nội tâm (introspection) hay một công trình theo dõi nghiên cứu ghi nhận ở tại chỗ (loại field work) và tường trình sự việc một cách khách quan (như việc theo dõi, quan sát của một nhà tâm lý học hay một nhà nhân chủng học), dù đó là tiểu thuyết kể lại cuộc đời của một người (life narrative) hay tự tiểu thuyết (auto fiction). Ngay cả những hồi ký (memoir) hay tự truyện (autobiography) cũng mang nhiều tính chủ quan, nhất là ở những chỗ nói về cá nhân của tác giả, không chắc đúng sự thật đủ khách quan để được đánh giá như một công trình khoa học về sử, hay về văn hóa, huống chi là tiểu thuyết. Tâm trạng nào đó tìm thấy trong một bài thơ, một tác phẩm tiểu thuyết, chỉ là tâm trạng của một nhân vật hay của tác giả trong một thời điểm nào đó do chính tác giả tạo ra. Nó mang nặng tính chủ quan của tác giả khi tác giả diễn tả. Nó có thể thay đổi từng lúc tùy theo cái vui buồn, tùy theo những xúc cảm xảy ra trong một khung cảnh đặc biệt nào đó. Nó có tính cách độc đáo, duy nhất, gắn liền với cá nhân, căn cước, và chủ quan của tác giả, không thể suy ra cho một tập thể được. Đi vào trong xóm, đi ra những khu phố có người Việt, ở nhiều nơi trên thế giới, hỏi đủ hạng người xem có mấy người đọc tác phẩm tiểu thuyết hay thơ gì đó của một nhà văn nhà thơ nào đó thử xem con số đọc giả thật sự được bao nhiêu? Những đọc giả đó là ai? Họ thích hay không thích tác phẩm đó? Họ có để ý đến tư tưởng gì đặc biệt trong đó không? Nếu làm được như vậy với nhiều tác giả khác nhau, nhiều tác phẩm khác nhau, nhiều chủ đề khác nhau, nhà nghiên cứu có thể có cái nhìn trung thực hơn về văn học hải ngoại cũng như sự liên hệ của nó đối với tập thể người Việt nơi xứ người.                         
   
Giả thuyết cũng như lý thuyết trong dự án của WJC không đứng vững vì có nhiều giả thuyết kình địch (rival hypotheses). Liên hệ nhân quả trong giả thuyết không thể chứng minh được. Có thể có nhiều biến số nguyên nhân khác hơn (extraneous variables) mà người nghiên cứu không kiểm soát (control) được. Do đó giá trị bên trong (internal validity) của công trình nghiên cứu không được bảo đảm. Nếu có những người nghiên cứu khác, không đứng trên một vị trí với WJC, làm lại (replicate) công cuộc nghiên cứu hay dùng phương pháp đối chiếu tay ba (triangulation) thì chắc chắn dự án nghiên cứu của WJC và công trình của hai học giả cộng sản sẽ không đứng vững. Có nhiều cách đối chiếu đáng lẽ phải được dùng để bảo đảm tín độ (reliability) và hiệu độ (validity) của công cuộc nghiên cứu như đối chiếu dữ kiện (data triangulation) hay tài liệu, đối chiếu phương pháp nghiên cứu (methods triangulation), đối chiếu nghiên cứu viên (investigators triangulation), đối chiếu lý thuyết (theories triangulation), v v. . . Không thì ít ra cũng cần có đồng nghiệp kiểm điểm lại (peer review). Không thấy WJC và hai học giả cộng sản dùng đến những biện pháp đó hoặc những biện pháp tương tự để bảo đảm tính khách quan, khoa học cho dự án.    
  
Tóm lại, tựa trên dự án nghiên cứu của WJC và các đề án đệ nạp cho WJC của hai học giả cộng sản, trên phương diện nghiên cứu khoa học, người đẻ ra dự án ba năm của WJC để tái xây dựng căn cước và quê hương của người Việt hải ngoại và hai học giả cộng sản được mời để chứng minh và đặt nền móng vững chắc cho công cuộc đó đã không thật sự làm công việc nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội một cách khách quan, vô tư, khoa học mà chỉ dùng lối bình luận văn chương chủ quan thiên lệch để bênh vực và cổ xúy cho chủ thuyết hòa giải/hòa hợp mà thôi. Hội Y Khoa Việt Nam, trong bức thư gởi cho ông Kevin Bowen đã có nhận xét là dự án của WJC thiên lệch vì được động viên bởi mục đích chính trị, và hai học giả cộng sản được mướn cho chương trình sẽ không đem lại kết quả khoa học, khách quan và vô tư được, ngược lại kết quả nghiên cứu của họ sẽ làm sai lạc ý nghĩa lịch sử của tập thể người Việt tị nạn khi họ phải lìa bỏ quê hương đi tìm tự do nơi đất lạ quê người (5). Người viết bài này hoàn toàn đồng ý với hội Y Khoa Việt Nam ở những điểm trên. Vì bài viết của hai ông Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến đăng trên báo chí không phải là những công trình nghiên cứu khoa học nên bài này không đề cập đến những bài đó và xin nhường lại cho các nhà bình luận văn học nhận định về giá trị của những bài viết này cũng như về tư cách học giả và uy tín quốc tế của hai ông mà ông Kevin Bowen và nhóm WJC đã giới thiệu khi lựa chọn họ cho chương trình nghiên cứu hồi năm đầu tiên.

GHI CHÚ

(1)        Trong bài diễn văn “Phát huy truyền thống vẽ vang, phấn đấu đưa công tác về người Việt Nam ở nước ngoài lên bước phát triển mới” của Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phú Bình nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Ủy Ban về người Việt Nam ở nước ngoài, nói về thành tích vận động đại đoàn kết, hòa hợp của Ủy ban này trong bao nhiêu năm qua, có ghi: “. . . Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới . . .ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài . . . đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách được ban hành có liên quan đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là Nghị quyết 36 – NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng như Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36. Nghị quyết có ý nghĩa rất to lớn đối với công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, trước hết là thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với công tác này và khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời. . . . thứ ba là góp phần tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy trong cộng đồng lòng yêu nước, tự hào dân tộc cùng chung sức xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhứt, hùng cường, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. . .  Hơn bao giờ hết, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài có những thuận lợi hết sức to lớn. . .”
(2)        Response to the Letter from the Vietnamese Medical Association of the Free World, đăng trong tạp chí Truyền Thông số 2 tháng 2/2002, phần Phụ Bản, trang 44.
(3)        Hoover, Kenneth R., et. al., The Power of Identity: Politics in a Key, Chatham House Publisher, N.J., 1997.
(4)        Identity, An International Journal of Theory and Research, Vol 1, Numero 3, 2001.
(5)        Letter of Protest of the Vietnamese Medical Association of the Free World, đăng trong tạp chí Truyền Thông số 2 tháng 2/2002, phần Phụ Bản, trang 41.

§ § §

Back