QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG

NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI

Trần Gia Phụng

Nơi nào có chế độ cộng sản hay xã hội chủ nghĩa,
thì nơi đó có người ra đi tỵ nạn.

 

1.-   VIỆT NAM SAU THẾ CHIẾN THỨ HAI

Sau thế chiến thứ hai (1939-1945), tại Việt Nam xảy ra những diễn biến chính sau đây:

Thứ nhất, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 14-8-1945, vua Bảo Đại (1) thoái vị ngày 25-8-1945.  Chính phủ do Trần Trọng Kim (1882-1953) lãnh đạo cũng sụp đổ theo.  Thứ hai, Hồ Chí Minh (1890?-1969), một đảng viên đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), và Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh (VM), do ông Hồ lãnh đạo và gồm đa số là đảng viên đảng CSĐD, chiếm chính quyền và lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tại Hà Nội ngày 2-9-1945.  Thứ ba, theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945 của Đồng Minh gởi cho Nhật Bản,(2) quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng vào Việt Nam ở bắc vĩ tuyến 16 (ngang Tam Kỳ) và quân Anh vào Việt Nam ở nam vĩ tuyến 16 để giải giới quân đội Nhật tại Đông Dương. Tối hậu thư nầy không đề cập đến việc ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, tạo thành khoảng trống chính trị mà nhân cơ hội đó, Mặt trận VM xuất hiện chiếm chính quyền. 

Ở đây có một điểm cần ghi nhận là chính phủ Trần Trọng Kim, thành lập ngày 17-4-1945 sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945 tại Đông Dương, không có Bộ Quốc phòng hay Bộ An ninh.  Do đó, khi Nhật đầu hành Đồng minh ngày 14-8-1945 và quân đội Nhật tại Đông Dương bị giải giới theo tối hậu thư Potsdam, chính phủ Trần Trọng Kim họp phiên cuối cùng ngày 23-8-1945 rồi giải tán, thì chẳng những không có chính quyền mà cũng không có một lực lượng võ trang nào để giữ gìn an ninh trật tự xã hội trong thời gian chuyển tiếp chờ đợi một chính quyền khác được thành lập.  Đó là cơ hội tốt cho Việt Minh cướp chính quyền.

Về đối nội, chính phủ Hồ Chí Minh ra sức tiêu diệt tất cả những thành phần không theo VM, nhất là những thành phần đối lập.(3)  Về đối ngoại, ông Hồ mua chuộc các tướng lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa để họ rút quân về nước êm thắm sau khi giải giới quân đội Nhật ở bắc vĩ tuyến 16 .  Trong khi đó, quân Anh đến Sài Gòn, đã đưa người Pháp trở lại tái chiếm miền Nam. 

Quân Pháp tiến dần ra Bắc.  Ông Hồ liền thương lượng với Pháp và ký Hiệp định sơ bộ tại Hà Nội với đại diện Pháp là Jean Sainteny ngày 6-3-1946, theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chánh riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1);  Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa giải giáp quân đội Nhật (điều 2).  Bên cạnh đó, cũng trong ngày 6-3, hai bên ký một phụ ước quân sự minh định hoạt động quân đội mỗi bên.(4)

2.-  CHIẾN TRANH 1946-1954

Việc giết hại các thành phần không theo VM cũng như việc ký kết Hiệp định sơ bộ, một cách thỏa hiệp để cho Pháp trở lại Việt Nam, làm cho dân chúng Việt Nam bất bình và phản đối mạnh mẽ.  Để thu hút nhân tâm, nắm lấy ngọn cờ chính nghĩa và để các đảng phái đối lập không có lý do chống đối, Hồ Chí Minh và Mặt trận VM mở cuộc kháng chiến chống Pháp, bất ngờ tấn công Pháp đêm 19-12-1946 trong lúc hai bên đang thương thuyết. 

Thế là chiến tranh bùng nổ.  Cuộc chiến kéo dài trong chín năm (1946-1954) có thể chia thành hai giai đoạn.  Giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949 và giai đoạn thứ nhì từ 1950 đến 1954. 

Trong giai đoạn thứ nhất, Pháp lần lượt tái chiếm các thành phố, các tỉnh đồng bằng và trung du, các vị trí chiến lược ở các miền núi non.  Pháp sử dụng các cựu quan và công chức (thời vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim) và các thành phần không cộng sản để tổ chức nền hành chánh tại các nơi đã chiếm.  Yếu thế, VM áp dụng tiêu thổ kháng chiến, rút lên các chiến khu để bảo toàn lực lượng, và dùng du kích chiến tấn công, quấy phá, làm tiêu hao dần dần quân đội Pháp.

Tình hình thay đổi vào năm 1949, khi quân đội cộng sản của Mao Trạch Đông (Mao Zedong, 1893-1976)  thắng thế ở Trung Hoa, vượt sông Dương Tử toàn chiếm Hoa lục.  Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai –shek, 1887-1975) đem lực lượng Quốc Dân Đảng ra Đài Loan (Taiwan).  Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 1-10-1949, đóng đô tại Bắc Kinh (Beijing).

Từ đây bắt đầu giai đoạn thứ hai của cuộc chiến ở Việt Nam.  Giai đoạn nầy đánh dấu bằng các sự kiện chính trị sau đây:  thứ nhất, sự thành lập chính phủ quốc gia Việt Nam, liên kết với Pháp chống lại VM cộng sản; thứ nhì, VM phản công mạnh mẽ khắp các mặt trận Bắc, Trung, và Nam phần nhờ sự viện trợ của khối cộng sản quốc tế; và thứ ba, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ cho các nước Đông Dương.

Tuy đang lúc chiến tranh với Pháp, VM vẫn tiếp tục giết hại không nương tay những phần tử không theo đường lối cộng sản.  Do vậy, những người theo lập trường tự do dân chủ không cộng sản quy tụ chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, lúc đó đã bỏ sang Hương Cảng sinh sống.  Những thành phần chính trị không cộng sản bị dồn vào thế sinh tử, chẳng đặng đừng phải tạm thời liên kết với Pháp để chống cộng và tìm cách xây dựng một nền độc lập không cộng sản.

3.-   CHÍNH PHỦ BẢO ĐẠI

Do những vận động của những thành phần chính trị không cộng sản, do những hoạt động của chính cựu hoàng Bảo Đại, và do nhu cầu của tình hình Việt Nam và thế giới, Pháp bắt buộc phải lựa chọn một giải pháp chính trị mới cho Việt Nam.  Giải pháp lúc đó không ai thích hợp hơn là cựu hoàng Bảo Đại.  Cuối tháng 12-1947, cựu hoàng đến Pháp thương thuyết.  Ngày 5-6-1948, cựu hoàng về vịnh Hạ Long chứng kiến việc ký kết thỏa ước Hạ Long giữa Cao uỷ Liên bang Đông Dương là Emile Bollaert, đại diện Pháp, và ông Nguyễn Văn Xuân cùng đại diện chính quyền ba miền: Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Hữu Chí (Bắc phần), Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn, Đinh Xuân Quảng (Trung phần), và Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch (Nam phần), trên chiến hạm Duguay-Trouin, thả neo trong vịnh Hạ Long.  Theo thỏa ước nầy, Pháp thừa nhận Việt Nam dưới sự lãnh đạo của quốc trưởng Bảo Đại là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp.(5a) 

Sau đó, quốc trưởng Bảo Đại qua Pháp tiếp tục thương thuyết.  Ngày 8-3-1949, tại điện Élysée với sự hiện diện của cựu hoàng Bảo Đại, tổng thống Pháp là Vincent Auriol đã ký một văn thư gởi cựu hoàng Bảo Đại cụ thể hóa nền thống nhứt và độc lập của Việt Nam, theo nguyên tắc dựa trên thỏa thuận Hạ Long.  Văn thư nầy thường được gọi là thỏa ước Élysée, theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm ba miền Bắc, Trung và Nam Việt, có nền ngoại giao, kinh tế, tài chánh, tư pháp, giáo dục riêng, và đặc biệt Pháp hứa giúp đỡ Việt Nam xây dựng một quân đội quốc gia chống cộng do sĩ quan người Việt Nam điều khiển.(5b)  Như vậy, qua thỏa ước Elysée, Pháp đã chính thức giải kết những hòa ước bất bình đẳng trước đây Pháp đã ký kết với nhà Nguyễn, quyết định trao trả độc lập cho Việt Nam, nhưng việc nầy tiến hành rất chậm. 

Chính vì Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia thống nhất dưới quyền của quốc trưởng Bảo Đại vào năm 1949, nên CHNDTH (ngày 18-1-1950) rồi Liên Xô (ngày 30-1-1950) vội vàng chính thức thừa nhận chính phủ VNDCCH của Việt Minh.

Như thế, sau thỏa ước Elysée, nước Việt Nam có hai chính phủ và hai quốc hiệu khác nhau tượng trưng cho hai khuynh hướng chính trị khác nhau.  Chính phủ cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu với quốc hiệu là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), và chính phủ chống cộng do cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo với quốc hiệu là Quốc Gia Việt Nam (QGVN).

Vào tháng 2-1950, Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh và Moscow xin viện trợ.  CHNDTH và Liên Xô bắt đầu viện trợ cho VM.  Mao Trạch Đông cho phép VM sử dụng những tỉnh Trung Hoa dọc biên giới Hoa Việt làm hậu cứ dưỡng quân và huấn luyện.(6a)  Đây là một lợi thế vô cùng quan trọng trong việc ứng dụng du kích chiến.  Quân đôi VM tấn công Pháp rồi lẫn trốn qua biên giới; quân đội Pháp không được phép đánh tràn vào nội địa CHNDTH.  Ngoài ra, CHNDTH gởi cố vấn cấp tiểu đoàn trở lên để giúp đỡ bộ đội VM.(6b)

Việt Minh thay đổi chiến thuật, từ du kích chiến qua vận động chiến, mở những trận phản công lớn từ cuối năm 1949 trở đi, nhất là từ khi nhận được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và CHNDTH.  Trong khi đó, tình hình về phía Pháp và chính phủ QGVN càng ngày càng xấu đi. 

Nội bộ chính phủ Quốc Gia xảy ra nhiều tranh chấp.  Từ khi Quốc trưởng Bảo Đại lập chính phủ đầu tiên ngày 1-7-1949 đến khi ông Ngô Đình Diệm chấp chánh ngày 7-7-1954, Việt Nam Quốc Gia có tất cả chín chính phủ kế tiếp cầm quyền.(7)   

Nội bộ nước Pháp chia rẽ không kém.  Từ khi ông Georges Bidault (1899-1983) lên cầm quyền ngày 28-10-1949, tức là từ khi VM mở những trận đánh phản công, cho đến hiệp định Genève ngày 20-7-1954, mười chính phủ đã thay nhau cầm quyền ở Pháp.(8)  Đảng Cộng Sản Pháp hoạt động mạnh để yểm trợ cho đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), bằng cách tiết lộ những tin tức quốc phòng chiến lược mật,(9) tuyên truyền phản đối chiến tranh Việt Nam, gọi cuộc chiến nầy là "la sale guerre" [cuộc chiến bẩn thỉu],(10a) kêu gọi thanh niên Pháp đừng lên đường tham chiến ở Việt Nam.  Trong khi đó, đảng R.P.F. (Rassemblement du peuple français do Charles de Gaulle (1890-1970) thành lập ngày 8-4-1947) thì dứt khoát không muốn tách Nam Kỳ ra khỏi nước Pháp, nghĩa là không muốn trao trả độc lập cho Việt Nam.  Như thế, tại Pháp bất cứ ai lên làm thủ tướng, đều lúng túng giữa các lập trường khác biệt lớn lao trên đây khi muốn giải quyết vấn đề Việt Nam.

4.-   CHIẾN TRANH LẠNH VÀ VAI TRÒ CỦA HOA KỲ

Sau thế chiến thứ hai (1939-1945), các nước trên thế giới chia thành hai khối theo hai khuynh hướng chính trị khác nhau.  Khối các nước Tây phương do Hoa Kỳ dẫn đầu và khối Cộng sản do Liên Xô lãnh đạo.  Các cường quốc trong hai khối nầy đối đầu nhau về ý thức hệ.  Một bên là dân chủ và tư bản theo chính sách kinh tế tự do, và một bên là cộng sản theo chính sách kinh tế chỉ huy.  Các nước nầy tranh chấp nhau hết sức gay gắt về tất cả các phương diện, nhưng không trực tiếp đem quân đánh nhau mà chỉ yểm trợ các cuộc chiến tranh địa phương trên thế giới.  Người ta gọi tình trạng nầy là chiến tranh lạnh.

Từ khi Trung Hoa lục địa lọt vào tay đảng Cộng Sản năm 1949, và tình hình Đông Dương càng ngày càng xấu đi, Hoa Kỳ rất lo ngại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản xuống vùng Đông Nam Á.  Lúc đó, tại Hoa Kỳ chủ trương chống cộng triệt để của thượng nghị sĩ Joseph Raymond McCarthy (1908-1957) thịnh hành đến nổi người ta còn gọi là chủ thuyết McCarthy (Carthyism).  Hoa Kỳ kiếm cách can thiệp vào Đông Dương để chận đứng làn sóng cộng sản. 

Sau khi Liên Xô và CHNDTH thừa nhận VNDCCH, Hoa Kỳ ngày 4-2-1950, và Anh Quốc ngày 7-2-1950, thừa nhận chính phủ QGVN.   Từ đó, qua trung gian Pháp, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ quân sự và kinh tế cho các nước Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.  Ngày 1-5-1950, tổng thống Hoa Kỳ là Harry Truman tuyên bố giúp Đông Dương 10 triệu Mỹ kim quân viện và 750.000 Mỹ kim viện trợ kinh tế.(10b) Phái đoàn Cố vấn Quân sự Mỹ (MAAG = Military Assistance Advisory Group)õ tại Đông Dương được thành lập từ tháng 8 và đến ngày 4-10-1950, Hoa Kỳ cử tướng Francis G. Brink làm trưởng phái đoàn.  Ngày 22-10-1950, đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam là Donald Health (1894-1981) trình uỷ nhiệm thư lên quốc trưởng Bảo Đại tại Đà Lạt.  Kể từ thỏa ước ký kết ngày 7-9-1951 tại Sài Gòn, Hoa Kỳ sẽ viện trợ kinh tế trực tiếp cho Việt Nam. (Viện trợ quân sự vẫn phải qua trung gian Pháp).  Khi đắc cử tổng thống Hoa Kỳ thay ông Truman ngày 5-11-1952, đại tướng Dwight Eisenhower tuyên bố rằng chiến tranh Đông Dương không còn là chiến tranh thuộc địa, mà là "cuộc chiến tranh giữa Cộng Sản và Thế giới Tự do"(11)

Vào năm 1954, Hoa Kỳ đã viện trợ 80% chi phí chiến cuộc của Pháp ở Đông Dương.(12)  Khi Pháp tỏ ý rút lui khỏi Đông Dương, Hoa Kỳ muốn tạo dựng tại Việt Nam một chính phủ chống cộng hữu hiệu để thực hiện sách lược toàn cầu của Hoa Kỳ lúc đó.  Hoa Kỳ liền ủng hộ giải pháp Ngô Đình Diệm (1901-1963), là nhân vật đã qua vận động tại Hoa Kỳ từ năm 1950.

5.-   HAI NƯỚC VIỆT NAM

Song song với chiến tranh Việt Nam, vào năm 1950, tại Đông Á bùng nổ chiến tranh Cao Ly (Korea).  Cuộc chiến nầy kéo dài trong ba năm, và cuối cùng kết thúc bằng hiệp ước Bàn Môn Điếm (Panmunjon) ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 chia hai Cao Ly.(13)  Công thức chia hai Cao Ly được các cường quốc ứng dụng để giải quyết chiến tranh Việt Nam.

Hội nghị ngũ cường Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô và CHNDTH tại Genève chính thức khai mạc ngày 26-4-1954, một ngày bàn về Đông Dương, một ngày bàn về Việt Nam.  Liên Xô đề nghị mở rộng những nước tham dự bằng cách mời thêm các phe lâm chiến ở Việt Nam.  Ý kiến nầy được chấp thuận tại phiên họp ngày 2-5-1954.  Như thế, về vấn đề Đông Dương, sẽ có tất cả là 9 phái đoàn: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô, CHNDTH, Quốc Gia Việt Nam, Việt Minh, Lào và Cambodge (Cambodia).

Pháp thất bại nặng nề tại Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, nên vội vàng tìm một giải pháp chính trị để rút quân khỏi Việt Nam.  Sau những tranh cãi và mặc cả cuối cùng vào buổi chiều ngày 20-7-1954 tại Hội nghị Genève, Hiệp ước đình chiến ở Đông Dương được soạn thảo xong và ký lết lúc 3 giờ 15 phút sáng 21-7-1954 trong lúc đồng hồ chính thức ở Điện Vạn Quốc ở Genève (trụ sở ký kết) vẫn giữ nguyên ở 12 giờ đêm 20-7-1954.(14a)  Hiệp định nầy gồm có ba văn kiện chính thức là: 1) Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam.  2) Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Ai Lao.  3) Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cambodge (Cambodia).

Riêng bản văn Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được viết bằng hai thứ tiếng Pháp Việt, có giá trị như nhau.  Hai nhân vật chính ký vào hiệp ước đình chiến là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH).  Các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, CHNDTH, Lào, Cambodia.  Riêng Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ không ký.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm 47 điều, trong đó các điều chính như sau:  Việt Nam chia làm hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải (tỉnh Quảng Trị), theo dòng sông đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Không nói đến vĩ tuyến 17.  Trong thực tế, sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.]  Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam (QGVN) ở phía nam.  Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954.  Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực (ngày nào, ghi thêm).  Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt.  Trong khi chờ đợi tổng tuyển cử [dự tính trong vòng 2 năm], mỗi bên sẽ tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng.  Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia.  Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới.  Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn.  Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế.  Thời hạn rút quân riêng cho từ khu kể từ ngày ngừng bắn:  Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày).  Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

Ngoài Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam là văn kiện chính thức trên đây, còn có bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954, theo đó điều 7 ghi rằng: "Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự.  Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó."(14b) 

Điều nầy có nghĩa là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam chỉ có tính cách thuần tuý quân sự, chứ không đưa đến giải pháp chính trị.  Giải pháp chính trị về một cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước nằm trong bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954.  Đây chỉ là lời tuyên bố của những phái đoàn chứ không phải là điều khoản ghi trong hiệp ước, nên tính cách pháp lý bị tranh cãi là không bắt buộc để thi hành.  Hơn nữa, phái đoàn Quốc Gia Việt Nam không ký vào bản Hiệp định Genève và nhất là không tham dự vào bản “Tuyên bố cuối cùng”, nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy. 

Dầu sao, cả hai bên QGVN và VNDCCH đều thực thi hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17.  Ở phía Bắc là VNDCCH, do ông Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, thủ đô là Hà Nội; ở phía Nam là QGVN, thủ đô là Sài Gòn, do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.  Quốc trưởng Bảo Đại cử ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng ngày 7-7-1954. 

Như thế, từ năm 1954, tại Bắc và Nam Việt Nam, có hai chính phủ riêng biệt, theo hai chính thể riêng biệt, tức có hai nước Việt Nam riêng biệt.

6.-   CUỘC DI CƯ NĂM 1954

Vấn đề cấp thời của hai chính phủ là tập trung và di chuyển quân đội cũng như người của mình và cả dân chúng về khu vực cai trị của mình, vì “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” cho phép trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia.

Số người từ miền Nam tập kết ra Bắc không được thống kê đầy đủ, chỉ khoảng trên dưới 100.000 người.(15)  Số lượng nầy có hai ý nghĩa chính: thứ nhất Việt Minh muốn gài đảng viên, cán bộ và du kích ở lại để chuẩn bị tiếp tục tranh đấu chính trị và chỉ đưa ra Bắc những người đã bị lộ diện; thứ hai dân chúng không ưa chế độ cộng sản nên không ra đi tập kết

Số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam lên đến khoảng gần 1.000.000 người.(16)  Trong số nầy, nhân viên chính quyền (tức công chức) và quân nhân chiếm một phần ít, còn đại đa số là dân chúng.  Đây là đợt tỵ nạn cộng sản lớn lao đầu tiên trong lịch sử hiện đại.  Người Việt Nam vốn rất ràng buộc với quê cha đất tổ mà một triệu người đành phải bỏ xứ ra đi chứng tỏ lòng dân quá chán ghét chế độ của đảng Lao Động (tức là đảng Cộng Sản Việt Nam). 

Số người ra đi đông đảo như trên rời đất Bắc có lợi cho đảng Lao Động vì những thành phần chống cộng, những đảng phái Quốc gia, những giới trí thức ưu tú, đều rút về miền Nam, nên không còn, hay ít còn người ở lại đối kháng với chế độ mới của họ.  Dĩ nhiên đảng Lao Động không bỏ qua cơ hội cho đảng viên cốt cán len lõi vào đoàn người di cư để làm tình báọ.  Việc định cư và ổn định đời sống cho một triệu đồng bào di cư vào Nam tuy thật khó khăn nhưng là thành quả lớn lao đầu tiên của chính phủ Ngô Đình Diệm.

7.-   VIỆT NAM CỘNG HÒA SỤP ĐỔ

Tại miền Nam, sau khi tạm ổn định tình hình, ông Ngô Đình Diệm tổ chức Trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 mà kết quả là truất phế cựu hoàng Bảo Đại và suy cử ông Ngô Đình Diệm lên chức Quốc trưởng.  Ngày 26-10-1955, ông Diệm tuyên bố Hiến ước tạm thời, thành lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), quốc trưởng lấy danh hiệu là Tổng thống VNCH.

Trong khi chính phủ Ngô Đình Diệm chưa sẵn sàng để tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo điều 7 trong bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954, thì trong Đại hội lần thứ 20 đảng Cộng Sản Liên Xô vào tháng 2-1956, lãnh tụ mới của Liên Xô là Nikita Khrushchev vạch tội Joseph Stalin và đưa ra chính sách "sống chung hòa bình" giữa các nước không cùng chế độ chính trị.  Theo chủ trương nầy, vào đầu năm 1957, chính phủ Liên Xô đề nghị hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt.  Chính phủ Bắc Việt quyết liệt phản đối đề nghị nầy.(17) 

Đây là một giải pháp quốc tế có thể giúp hai miền Bắc và Nam Việt Nam sống chung hòa bình, thi đua xây dựng và phát triển đất nước, chờ cơ hội thuận tiện tái thống nhất với nhau.  Nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt quyết liệt phản đối.  Bắc Việt đã vận động với Liên Xô thay đổi chính sách, không chấp nhận cho Nam Việt vào Liên Hiệp Quốc.  Quả thực sau đó, vào tháng 9-1957, Liên Xô đã phủ quyết khi vấn đề nầy được đưa ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mà Liên Xô là một thành viên thường trực.(17)

Bắc Việt chống lại đề nghị ban đầu của Liên Xô đưa hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc vì Bắc Việt cương quyết tiến hành chiến tranh xâm lăng miền Nam.  Tại hội nghị ngày 13-5-1959 ở Hà Nội, Trung ương đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) ra nghị quyết thống nhất đất nước tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực  (Nghị quyết đăng trên báo Nhân Dân ngày 14-5-1959.).  Nghị quyết nầy được lập lại trong Đại hội 3 đảng Lao Động, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng Lao Động là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng võ lực.(18)

Do việc Bắc Việt không chịu chung sống hòa bình để chờ ngày thống nhất, cương quyết xâm lăng miền Nam, nên Nam Việt phải tự vệ và ở thế chẳng đặng đừng phải nhờ Hoa Kỳ viện trợ để bảo vệ tự do dân chủ ở miền Nam. 

Ở đây cần chú ý là trong khi Liên Xô và CHNDTH hết lòng giúp đở VNDCCH để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, thì chính phủ Hoa Kỳ giúp VNCH theo quan điểm thực dụng, dựa trên quyền lợi của nhân dân và tư bản Hoa Kỳ, và tương quan với nền bang giao quốc tế của Hoa Kỳ, chứ không phải vì quyền lợi của những nước hợp tác, kể cả các đồng minh của Hoa Kỳ.  Do chủ trương thực dụng và đồng minh giai đoạn, từ 1954 đến 1975 Hoa Kỳ không ký bất cứ một hiệp ước nào với VNCH.  Bang giao giữa hai nước chỉ dựa trên sự thương thảo cam kết giữa hai chính phủ mà thôi.  Những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ tránh né điều nầy, vì hiệp ước phải được đưa ra quốc hội biểu quyết, và ràng buộc Hoa Kỳ phải thi hành những điều cam kết.  Trong khi các nhà lãnh đạo VNCH, theo truyền thống Đông phương, một lời nói ra, xe bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp, tin tưởng trên lời hứa danh dự của các nhà lãnh đạo chính phủ Hoa Kỳ.  Trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, tất cả những cam kết quốc tế của hành pháp (chính phủ) phải được lập pháp (quốc hội) thông qua mơi có giá trị.  Vì không có một hiệp ước “hữu nghị”, hay “hỗ tương phòng thủ” giữa Hoa Kỳ và VNCH được quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, nên khi thay đổi chính sách, Hoa Kỳ rút lui phần họ mà không bị một ràng buộc pháp lý nào với VNCH.

Trong lúc giúp đỡ VNCH, các chính trị gia Hoa Kỳ vào đầu thập niên 60, càng ngày càng nhận thấy rằng hai nước cộng sản Liên Xô và CHNDTH không đoàn kết chặt chẽ như họ tưởng trước đây, mà hai nước nầy có những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng.  Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa càng ngày                                càng tự tin và hiếu chiến, nhất là từ khi họ thử nghiệm thành công quả bom hạch tâm vào tháng 6-1967, và trở thành cường quốc nguyên tử đầu tiên ở Á Châu.  Người Hoa Kỳ còn thấy rằng VNDCCH không nguy hiểm bằng Liên Xô và CHNDTH là hai nước sở đắc vũ khí nguyên tử có thể đe doạ Hoa Kỳ và các nước khác.  Vì vậy, vào đầu thập niên 70, Hoa Kỳ quyết định thay đổi chiến lược toàn cầu, chấp nhận rút quân khỏi miền Nam Việt Nam để bắt tay với CHNDTH, ngõ hầu chia rẽ nước nầy với Liên Xô,(19) và tìm kiếm một đường lối khác giải quyết cuộc chiến tranh lạnh có tính cách toàn cầu với Liên Xô, theo quyền lợi của Hoa Kỳ, và không cần đếm xiả gì đến người bạn đồng minh VNCH.

Từ đó, Hoa Kỳ thương thuyết với VNDCCH và ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 theo đó Hoa Kỳ rút quân và tháo gỡ toàn bộ căn cứ quân sự tại Nam Việt trong vòng 60 ngày, nhưng quân đội Bắc Việt vẫn đóng giữ tại chỗ các phần đất đã chiếm được tại Nam Việt và Bắc Việt được toàn khối cộng sản tiếp tục yểm trợ.  Bắc Việt không ngừng kiếm cách lấn đất giành dân.  Thế là chiến tranh cứ tiếp diễn sau hiệp định Paris.  Quân đội VNCH cố gắng một mình chiến đấu, nhưng cuối cùng thiếu tiếp liệu, đành chấp nhận buông súng.  Chính thể VNCH sụp đổ.  Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt.

8.-   CUỘC VƯỢT BIÊN NĂM 1975

Một lần nữa, trên đất nước Việt Nam, lại diễn ra cuộc tỵ nạn cộng sản.  Lần nầy khác hơn cuộc di cư năm 1954 khá nhiều.  Năm 1954, đồng bào ra đi có tổ chức, có thời hạn 300 để chọn lựa, có tàu bè đưa đi, và di chuyển từ Bắc vào Nam.  Trong khi đó, năm 1975 là cuộc sụp đổ toàn diện của VNCH.  Những người có điều kiện tự lo trốn đi một cách âm thầm, và nếu bị bắt, sẽ bị xử tội “phản quốc”.   Cộng sản tìm tất cả các cách truy kích, bắn giết.  Thế mà người ta vẫn ra đi, không phải đi từ Bắc vào Nam Việt Nam, mà tìm cách thoát thân ra biển cả mênh mông, nguy hiểm hơn, gian nan hơn, nhưng lại đông đảo hơn và lâu dài hơn lần trước. 

Cuộc vượt biên của người Việt từ 1975 có thể tạm chia thành bốn giai đoạn: (những con số dưới đây chỉ phỏng chừng, không chính xác, lấy tin qua các báo)

Giai đoạn 1:  Ngay sau biến cố 30-4-1975 và vài tháng kế tiếp, khoảng từ 100,000 đến 150,000 người bỏ nước ra đi, đại đa số tỵ nạn ở Hoa Kỳ.(20)

Giai đoạn 2: Khi người Việt ồ ạt bỏ nước ra đi tỵ nạn, tổng thống Gerald R. Ford (thay thế tổng thống Richard Nixon từ chức tháng 8-1974) ban hành đạo luật “Indochina Migration and Refugee Act” (Đạo luật về Di trú và Tỵ nạn Đông Dương) năm 1975, theo đó “tổng thống [Hoa Kỳ] sẽ yêu cầu những viên chức đặc trách vấn đề tỵ nạn ở cấp cao nhất được hành xử nhựng ưu tiên tối cao nhằm giảm nhẹ nỗi thống khổ kinh hoàng của người tỵ nạn Đông Nam Á Châu.”(21) 

Từ 1978 đến 1980, khoảng từ 400,000 đến 500,000 người Việt ra đi, trong đó đa số là người Việt gốc Hoa, theo phong trào gọi là "bán chính thức".  Khoảng một nửa số nầy qua CHNDTH, lúc đó đang đối đầu với Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (quốc hiệu mới được đặt ra năm 1976, CHXHCNVN).  Số còn lại qua Hồng Kông và các đảo Đông Nam Á.  (Năm 1978 là năm ông Đỗ Mười, bí thư trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), vào Nam phát động chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, nhưng thực chất là đánh giới tư sản, nhất là nhắm vào giới tư sản người Việt gốc Hoa. Vì việc nầy, nền kinh tế Việt Nam suy sụp hẳn từ đây và đa số người Việt gốc Hoa bỏ ra đi.)

Trước tình hình ra đi tỵ nạn dông đảo trên đây, chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật “Refugee Act” (Đạo luật Tỵ nạn) ngày 17-3-1980 để “cung cấp quy chế có tính cách hệ thống và vĩnh viễn để tiếp nhận và tái định cư một cách hiệu quả người tỵ nạn dựa trên những nhu cầu nhân đạo đặc biệt.”(21) 

Giai đoạn 3:  Từ 1981 đến 1989 [trước thời điểm Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc ((United Nations High Commissioner for Refugees = UNHCR) ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn, không nhận người vượt biên], khoảng 500,000  thuyền nhân Việt đến các đảo Hồng Kông, Palawan (Phi Luật Tân), Bidong (Malaysia), Galang (Indonesia), các trại ở Thái Lan... rồi từ đó đi định cư khắp thế giới.

Giai đoạn 4:  Từ 1989 đến 1996, tức từ khi Liên Hiệp Quốc khóa sổ (1989) cho đến lúc giải tán vĩnh viễn các trại tỵ nạn (1996), số người ra đi vẫn tiếp diễn, khoảng 200,000 người, cũng qua các đảo trên, phải trải một cuộc thanh lọc gắt gao để được xác nhận là tỵ nạn chính trị mới được đi định cưAi không “đậu” thanh lọc thì bị trả về Việt Nam.

Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình.  Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của mình.  Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương.  Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được.  Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.

Các điểm sau đây cần lưu ý:  Cuộc vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam từ khi lập quốc cho đến nay.  Đây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới.  Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế.  Thời gian phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975.  Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000).  Sự vượt biên vĩ đại của dân chúng Việt chứng tỏ dân chúng không muốn hợp tác với nhà cầm quyền CSVN và nêu cao tinh thần yêu chuộng tự do của người Việt.  Sự vượt biên ào ạt bất chấp mạng sống của người Việt đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc tài chế độ CSVN trước công luận thế giới.  Sự kiện nầy làm hoen ố hình ảnh CSVN, và luôn cả hình ảnh cộng sản quốc tế.  Phải chăng chính vì sự kiện nầy mà nhân dân thế giới thêm chán ghét cộng sản và từ đó đã giúp đỡ thúc đẩy các nước Đông Âu gấp rút ly khai với chủ trương cộng sản, đưa đến sự sụp đổ nhanh chóng của khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô vào các năm 1990, 1991? 

9.-   CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HẢI NGOẠI

Biến cố ngày 30-4-1975 là nguyên nhân trực tiếp tạo thành phong trào vượt biên.  Ngoài nhóm người đầu tiên ra đi ngay sau ngày 30-4-1975, được nhập cư vào Hoa Kỳ tương đối dễ dàng, những người vượt biên sau đó phải trải qua nhiều thủ tục khó khăn rườm rà mới được đi định cư.

Thoát khỏi Việt Nam, những người vượt biên đến tạm cư ở những nước lân cận Việt Nam như Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông... Tại đây, người vượt biên được cơ quan UNHCR phỏng vấn.  Sau đó đến cuộc phỏng vấn của Đại diện nước mà đương sự muốn xin đi định cư (Hoa Kỳ, Canada, Úc...).  Trong hai cuộc phỏng vấn nầy, người vượt biên phải chứng minh mình đúng là nạn nhân của chế độ cộng sản, mới được đi định cư. 

Năm 1989, UNHCR quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn ở như Malaysia, Indonesia, Phi Luật Tân, Hồng Kông.  Từ đây các thuyền nhân phải trải qua một cuộc thanh lọc chặt chẽ hơn, phải đầy đủ giấy chứng minh là cá nhân hay gia đình thực sự bị chế độ cộng sản ngược đãi.  Vượt qua cuộc thanh lọc (tức là “đậu thanh lọc”) thì được đi định cư, nếu không vượt qua cuộc thanh lọc (tức là “hỏng thanh lọc”), đương sự sẽ bị trả về Việt Nam.  Những người đậu thanh lọc còn phải qua thêm một cuộc phỏng vấn của phái đoàn quốc gia mình muốn xin định cư, và nếu bị bác đơn thì phải xin đi nước khác.

Các cuộc phỏng vấn của UNHCR và của các nước trên thế giới là bằng chứng quốc tế chính thức thừa nhận Cộng đồng người Việt tỵ nạn sau năm 1975 trên thế giới là Cộng đồng tỵ nạn cộng sản.  Đây là điều không phải người Việt muốn tự xưng, mà do chính Liên Hiệp Quốc và các nước thứ ba cho phép người Việt đến định cư đã xác nhận.

Ngoài đa số người ra đi bằng thuyền, còn có khá nhiều người ra đi bằng đường hàng không theo hai chương trình ODP và HO.  ODP là chữ viết tắt của Orderly Departure Program, là chương trình “Ra đi có trật tự” do thân nhân bảo lãnh,(22) bắt đầu từ 1979.  HO là chữ người Việt thường dùng để gọi chương trình Humanitarian Operation Program, bắt đầu từ năm 1989, do chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho các nhân viên và quân nhân VNCH bị ba năm tù cộng sản trở lên và gia đình tái định cư tại Hoa Kỳ.  Chương trình HO của Hoa Kỳ thêm một lần nữa chính thức xác nhận những người ra đi là những người tỵ nạn cộng sản.

Thêm vào đó, có một số người ra đi do du học hoặc xuất khẩu lao động qua Liên Xô và các nước Đông Âu, đã xin tỵ nạn khi chế độ cộng sản sụp đổ vào những năm 1990-1991.  Số nầy lên đến khoảng trên 100,000 người (số liệu trong nước cho biết khoảng 300,000 người), rải rác ở Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungaria, Đức... Hiện nay nhiều người trong số nầy đã chuyển qua các nước phương tây định cư.

Như thế, dầu ra đi từ năm 1975, hay theo các chương trình ODP, HO, hay xin tỵ nạn từ các nước Đông Âu, và dầu hiện nay người Việt theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, thậm chí có thể có người muốn hòa giải hòa hợp với cộng sản trong nước đi nữa, thì căn nguyên của tất cả cộng đồng người Việt ở hải ngoại hiện nay đều mang tính cách là cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. 

Người Việt tỵ nạn hiện nay tập trung đông nhất ở Hoa Kỳ, sau đó đến Úc Châu, Canada và Âu Châu.  Có một số ít ở vài nước Á Châu như Nhật Bản, Singapore, Phi Luật Tân.  Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê dân số năm 2000 cho thấy người Mỹ gốc Việt là 1,122,528 người trên dân số Hoa Kỳ là 281,421,906.(23)  Người Việt vốn quen với khí hậu nắng ấm miền nhiệt đới ở Việt Nam, nên sau khi nhập cư vào Hoa Kỳ, tạm thời ổn định đời sống, người Việt thường tìm đến các tiểu bang nắng ấm miền nam Hoa Kỳ như California, Florida, Texas.(24)  Tại California, ở Orange County, các thành phố Garden Grove, Wesminster, Santa Ana, Fountain Valley họp thành trung tâm Little Sài Gòn, được xem là thủ đô của người Việt tỵ nạn trên thế giới.

Hội đồng hai thành phố Westminster và Garden Grove ở Little Sài Gòn đã ra “Nghị quyết không hoan nghênh” (Unwelcome Resolution) công bố vào tháng 5-2004, buộc cơ quan Cảnh sát địa phương phải thông báo cho Hội Đồng Thành phố trước 14 ngày để xin bảo vệ an ninh khi có phái đoàn chính thức của CHXHCNVN đến viếng thăm thành phố.

Tính chung, tổng số người Việt ở hải ngoại, kể cả lớp con cháu, hiện thời được ước lượng lên đến khoảng trên hai triệu người.  Dân số nầy sẽ còn tăng nữa theo thời gian.  Cộng đồng người Việt hải ngoại nhanh chóng lớn mạnh, nhờ người Việt vốn thông minh, chăm chỉ, cần cù, chịu khó, tiết kiệm, giản dị.  Hiện nay đang có dấu hiệu cho thấy càng ngày người Việt càng thành công tại các nước đang định cư. 

Về phương diện kinh tế, hiện nay người Việt ở hải ngoại hằng năm gởi về Việt Nam hàng tỷ Mỹ kim.  Theo thống kê của “Hội Việt Kiều” Hà Nội vào tháng 6-2003, thì số tiền người Việt gởi về năm 2002 là 2,7 tỷ Mỹ kim.  Dầu số tiền nầy chỉ để giúp bà con, gia đình, nhưng gia đình là đơn vị căn bản của xã hội, nên viện trợ cho gia đình còn có nghĩa là viện trợ cho xã hội, do đó số tiền lớn lao nầy cũng đã nâng đỡ rất nhiều nền kinh tế hiện nay trong nước.  (Vào năm 1975, để có thể tiếp liệu cho chiến trường, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001), đã xin chính phủ Hoa Kỳ viện trợ chỉ 300 triệu Mỹ kim, một số tiền khoảng 15% số tiền người Việt hiện nay gởi về nước hằng năm, mà Quốc hội Hoa Kỳ từ chối.)  

Về phương diện văn hóa, tại bất cứ nước nào, các cộng đồng người Việt hiện nay đều hoạt động tự phát rất tích cực nơi quê người.  Ở một số điạ phương, Việt ngữ trở nên một môn học chính thức trong học đường.ï  Tuy không phải là quê hương ruột thịt của mình, nhưng có một số thị trấn mà chợ búa, quán ăn, sinh hoạt hầu như hoàn toàn bằng tiếng Việt.  Nhờ hệ thống chính trị tự do dân chủ nơi quê người, văn học, nghệ thuật, ca nhạc, nghiên cứu, tiểu thuyết, báo chí đa dạng và phát triển mạnh mẽ.  Nếu tính theo tỷ lệ dân số, thì sự phát triển nầy còn phát triển mạnh mẽ hơn trong nước hiện nay.  Nếu tính theo chiều không gian, thì báo chí, tác phẩm văn học Việt Nam ở hải ngoại bao trùm rộng rãi cả thế giới.  Ngoài ra, hệ thống báo chí điện tử trên các mạng lưới thông tin quốc tế đã giúp truyền bá tin tức chính trị quốc tế, tác phẩm văn học hải ngoại rộng rãi khắp thế giới kể cả nhập vào trong nước.  Nhiều tác giả đã viết sách bằng tiếng nước ngoài, cũng như nhiều tác phẩm đã được dịch ra tiếng nước ngoài.

Về phương diện chính trị, sau khi tạm ổn định đời sống nơi vùng đất mới, đồng bào hải ngoại tiếp tục cuộc tranh đấu chống cộng sản đang còn dang dở.  Lúc đầu, nhiều người tham gia phong trào võ trang chiến đấu, tìm đường trở về phục quốc.  Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan cũng nhưng khách quan, các phong trào nầy đã thất bại.  Người Việt quay qua vận động chính trị sôi nổi khắp nơi trên thế giới.  Những vận động nầy là điểm tựa tinh thần cho những người Việt lưu vong biệt xứ giữ vững niềm tin vào tương lai, và tạo được một thế chính trị đối trọng với nhà cầm quyền cộng sản trong nước. 

Vào cuối thế kỷ 20, khi CHXHCNVN ký hai hiệp ước nhượng đất và nhượng biển cho CHNDTH, người Việt khắp nơi trên thế giới rất bất bình, lên tiếng phản đối việc làm của nhà cầm quyền Hà Nội.  Vào hai ngày 28 và 29-12-2002, Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại tại thành phố Anaheim, Oronge County, tiểu bang California, Hoa Kỳ quy tụ trên 200 đại diện các cộng đồng người Việt khắp thế giới, đã đồng thanh lên tiếng phản đối và yêu cầu hủy bỏ hai hiệp ước ký kết giữa CHXHCNVN và CHNDTH ngày 30-12-1999 và 25-12-2000 theo đó Việt Nam bị mất một số diện tích trên đất liền và trên vịnh Bắc Việt.

Sau hai thập niên tỵ nạn, sang đầu thế kỷ 21, cộng đồng người Việt ở hải ngoại bắt đầu đi vào chính lưu (mainstream) sinh hoạt chính trị tại những nơi mình sinh sống.  Ở Hoa Ky và Úc, người Việt đã tham gia vào các Hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và lập pháp ở cấp tiểu bang cũng như liên bang. 

Tại các nước Tây phương tự do dân chủ, sinh hoạt chính trị của người Việt cũng khá đa dạng.  Tại Hoa Kỳ, có người theo đảng Cộng Hòa, có người theo đảng Dân Chủ.  Trên thế giới, có nhiều người vẫn giữ nguyên lý tưởng ban đầu khi ra đi, nhất quyết kiếm cách giải thể chế độ CSVN.  Thành phần nầy hiện chiếm đại đa số trong cộng đồng người Việt. 

Tuy nhiên vẫn có một thiểu số theo hai khuynh hướng: 1) Khuynh hướng thứ nhất tự cho rằng họ không làm chính trị, tránh né những sinh hoạt chính trị.  Chính trị ở đây được hiểu là chính trị Việt Nam, giữa khuynh hướng Quốc gia và khuynh hướng cộng sản).  Tuy nhiên, chính vì lý do bị cộng sản ngược đãi, đàn áp nên họ hoặc gia đình họ mới hiện diện ở nước ngoài.  2) Khuynh hướng thứ nhì muốn “hòa giải hòa hợp” với cộng sản.  Những người ngầy có hai lý do: Hoặc họ cộng tác làm ăn với một số tổ chức Hoa Kỳ.  Các tổ chức nầy muốn qua Việt Nam đầu tư, nhất là từ khi chính phủ Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1995.  (Chính phủ hay thương nhân Hoa Kỳ đương nhiên hành động theo quyền lợi của dân chúng và quốc gia Hoa Kỳ.)  Hoặc chính những người nầy trực tiếp về Việt Nam đầu tư kinh doanh, đưa sản phẩm về tiêu thụ, in ấn sách vở.  Cả hai khuynh hướng nầy hiện nay đều thuộc thành phần thiểu số trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. 

Ngoài ra, các cán bộ cộng sản Việt Nam ở hải ngoại đang cố gắng tuyên truyền để triển khai thực hiện nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị đảng CSVN, nhắm lôi cuốn người Việt định cư ở nước ngoài trở về hợp tác với nhà nước cộng sản Việt Nam.  Tuy nhiên, nghị quyết nầy không đạt được tác dụng như ý của tác giả vì qua tin tức gia đình, qua mạng lưới thông tin quốc tế, qua lời truyền miệng của những người đã từng về Việt Nam, cộng đồng người Việt ở hải ngoại nắm biết rất rõ thực trạng độc tài và tham nhũng hiện nay ở trong nước.  Vấn đề là chỉ cần nhà cầm quyền trong nước tôn trọng dân quyền và nhân quyền, thực thi những quyền tự do căn bản như tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do chính trị, xây dựng xã hội dân sự pháp trị, tạo điều kiện cho dân chúng làm ăn thoải mái, thì tức khắc thu hút chẳng những người Việt ở hải ngoại mà cả công dân các nước khác trên thế giới đến hợp tác, vì con người ở đâu cũng đều sống theo châm ngôn “cây lành chim đậu”.

10.-   BIỂU TƯỢNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT

Khi rời đất nước ra đi tìm dự do, người Việt mang theo trong trái tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương gia đình, bà con, bạn bè thân thiết và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do mà mình đã sống, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là lá CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam và sau đó Việt Nam Cộng Hòa.

Lá cờ nầy phát xuất từ sau bản Tuyên Ngôn Độc Lập do vua Bảo Đại công bố tại Huế ngày 11-3-1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, và lên tiếng trao trả độc lập lại cho Việt Nam.  Ngày 14-7-1945, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập tại Huế.  Ngày 2-6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim chọn quốc kỳ nền vàng, trên có ba sọc đỏ theo hình quẻ ly.(25)  Nền cờ màu vàng, giữa có ba gạch ngang màu đỏ, nhưng gạch ở giữa không thẳng như hai gạch hai bên, mà chia thành hai đoạn ngắn cách nhau.

Hoạt động được nửa năm, chính phủ Trần Trọng Kim sụp đổ khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 14-8-1945 và vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị ngày 25-8-1945.  Mặt trận Việt Minh chiếm chính quyền, thành lập chính phủ tại Hà Nội ngày 2-9-2945.  Khi cựu hoàng Bảo Đại đứng ra chấp chánh trở lại, ông giao cho ông Nguyễn Văn Xuân, thiếu tướng trong quân đội Pháp, và từng là bộ trưởng không bộ nào (quốc vụ khanh) của chính phủ Hồ Chí Minh ngày 2-9-1945, đứng ra lập chính phủ lâm thời ngày 1-6-1948 tại Sài Gòn.  Hôm sau, ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân ký pháp lệnh ban hành quốc kỳ và quốc ca.  Quốc kỳ nền vàng, ba sọc đỏ ở giữa, quốc ca là bài “Tiếng gọi sinh viên” sau đổi thành “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước.(26a)

Lá quốc kỳ mới hình chữ nhật, chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ.  Ý nghĩa thứ nhất của lá cờ nầy là tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.  Lúc đó, người Pháp muốn Nam Kỳ tự trị, tách ra khỏi Việt Nam, nhưng toàn dân Việt Nam chống đối điều đó, và riêng tự thân các chính trị gia cũng như dân chúng miền Nam cũng quyết liệt chống đối điều đó, và muốn cùng đứng chung trong cộng đồng dân tộc.  Ba sọc đỏ tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng tượng trưng căn bản của quốc gia.  Ý nghĩa thứ nhì là tính tự do dân chủ của chế độ mà lá cờ tượng trưng.  Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức lá cờ.  Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẫu vẽ, chứ không phải là lấy lá cờ của một tổ chức, một đảng phái rồi áp đặt trên ý dân như cờ của ông Hồ Chí Minh.

Khi ông Ngô Đình Diệm thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa năm 1955, Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ.  Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị.  Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát  nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên lá cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia.(26b)

Khi ra nước ngoài từ năm 1975, người Việt tiếp tục gìn giữ biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc mình, lá cờ vàng ba sọc đỏ.  Trong hầu hết các sinh hoạt cộng đồng đều có làm lễ chào cờ quốc gia địa phương và chào cờ Việt Nam Cộng Hòa.  Dường như để thử thách ý chí của cộng đồng người Việt hải ngoại, vào tháng 2-1999, tại Santa Ana (Little Saigon), có một thương nhân treo hình Hồ Chí Minh và cờ CHXHCNVN trong tiệm buôn của ông ta.  Thế là diễn ra cuộc biểu tình liên tục mà theo giới truyền thông Mỹ thì mỗi ngày có khoảng 15,000 người biểu tình đòi hạ lá cờ và tấm hình, còn theo báo chí Việt ở California thì có khoảng 40,000.  Cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới đều lên tiếng ủng hộ việc làm của dân chúng Mỹ gốc Việt tại thủ đô tỵ nạn của người Việt, quyết triệt hạ là cờ của chế độ đã xâm chiếm miền Nam.

Dần dần, khi đi vào chính lưu dòng sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Việt bắt đầu vận động các cấp lập pháp địa phương thừa nhận lá cờ Việt Nam Cộng Hòa là biểu tượng chính thức của cộng đồng người Việt. 

Bắt đầu từ thành phố Westminster ở California với nghị quyết số 3750 ngày 19-2-2003, cho đến nay (tháng 10-2004), lá cờ Việt Nam Cộng Hòa được thừa nhận là biểu tựợng chính thức của Cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ ở 6 tiểu bang (Louisiana, Hawaii, New Jersey, Virginia, Colorado va Florida), 3 quận hạt (Santa Clara ở California, Fairfax ở Virginia, Pierce ở Washington State), 59 thành phố ở 22 tiểu bang,.  Trong lịch sử thế giới, chưa có một hiện tượng nào đặc biệt như trường hợp cộng đồng người Việt hiện nay: lá cờ của những người di tản được chính thức thừa nhận, bay phất phới ở khắp nơi trên thế giới, trong khi lá cờ của chế độ CHXHCNVN đang cai trị trong nước chỉ được treo duy nhất trong các trụ sở ngoại giao của họ mà thôi. 

Ngoài ra, cần ghi nhận thêm nhiều nơi trên thế giới, cộng đồng người Việt đã xây dựng những đài tưởng niệm, và thường xuyên treo cờ tại các nơi nầy, như Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại Ottawa, Canada, khánh thành ngày 30-4-1995; Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Úc Việt tại thành phố Perth, tiểu bang Western Australia (Australia), ngày 7-12-2002; và Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Nam-Hoa Kỳ, tại công viên tòa thị chính Westminster, California, ngày 27-4-2003. (27)

*

Lịch sử thế giới cho thấy từ cuộc cách mạng tháng Mười ở Liên Xô năm 1917, nơi nào có chế độ cộng sản hay xã hội chủ nghĩa thì nơi đó có người ra đi tỵ nạn.(28)  Việc đảng CSVN chiếm quyền ở Việt Nam đã tạo nên hai đợt sóng thần tỵ nạn.  Đợt thứ nhất vào năm 1954, khi cộng sản cai trị ở miền Bắc theo sự phân chia của hiệp định Genève, và đợt thứ hai vào năm 1975 khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam.  Trong đợt thứ nhất, đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, có phương tiện, có thời gian, và định cư ở miền Nam tức trong lãnh thổ Việt Nam.  Đợt thứ hai là một cuộc trốn chạy sinh tử, vừa lo sợ cộng sản truy đuổi, vừa lo sợ biển cả mênh mông bất trắc, vừa lo sợ hải tặc hoành hành, lại phải trải qua những thủ tục khó khăn và cuối cùng định cư ở những xứ sở hoàn toàn xa lạ. 

Chính đợt sóng thần tỵ nạn thứ hai đã đưa đẩy người Việt đi khắp năm châu, đông nhất ở Bắc Mỹ, Úc Châu và Tây Âu, và tạo nên Cộng đồng người Việt ở hải ngoại.  Nhân đây, cần phải nhấn mạnh là toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại chân thành cảm tạ các nước tự do dân chủ đã hết sức nhân đạo mở rộng cửa quan đón nhận người Việt tỵ nạn. 

Những gian khổ trên đường tỵ nạn đã rèn luyện và phát huy mạnh mẽ thêm bản lãnh sẵn có của người Việt.  Tại quê hương thứ hai, cộng đồng người Việt đã nhanh chóng hội nhập thành công vào xã hội mới, tạo dựng lại sự nghiệp, thành đạt trên mọi lãnh vực, từ học vấn đến kinh tế, tài chánh, văn hóa, chính trị và càng ngày càng được nễ trọng. 

Sự lớn mạnh của cộng đồng người Việt ở hải ngoại tạo thành một lực lượng quan trọng, chắc chắn sẽ tác động đến sinh hoạt trong nước, gây ảnh hưởng lâu dài đối với sự phát triển của Việt Nam.  Hiện nay, trào lưu dân chủ hóa rất phổ biến trên toàn cầu.  Các nước trên thế giới đều khuyến khích thực hiện chế độ tự do dân chủ.  Việt Nam không thể tự cô lập mãi mà phải hòa nhập vào dòng sống thế giới, tức phải đi theo con đường tự do dân chủ.  Khi đất nước trở lại dưới ánh sánh tự do dân chủ, cộng đồng người Việt hải ngoại chắc chắn sẽ đóng góp mạnh mẽ để Việt Nam có thể canh tân và bắt kịp lại thời gian đã mất vì định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ độc tài lỗi thời hiện nay trong nước.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto 1-11-2004)

 

CHÚ THÍCH:

1.      Bảo Đại: Tên là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh năm 1913, lên ngôi thế vua cha năm 1925.  Năm 1945, sau thế chiến 2, do tình hình biến chuyển, ông tuyên bố thoái vị ngày 25-8-1945.  Năm 1949, ông trở lại làm Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, và bị truất phế sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 do ông Ngô Đình Diệm tổ chức ở miền Nam Việt Nam.  Ông từ trần năm 1997 tại Pháp.

2.      Tối hậu thư Potsdam: Sau khi Đức thất trận và trước khi Nhật đầu hàng, từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, đại diện Hoa Kỳ là Harry Truman, đại diện của Anh lúc đầu là Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Stalin họp tại Potsdam, ngoại ô Berlin, để bàn về các vấn đề hậu chiến, và vấn đề Nhật Bản đang còn chiến đấu ở Á Châu.  Đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh) cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945.  Liên Xô không được tham dự vào tối hậu thư nầy vì lúc đó, Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu.  Tối hậu thư nầy buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc... Riêng về vấn đề Đông Dương, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. 

3.      Không kể những chuyện nhỏ nhặt thù oán cá nhân, năm 1945 và 1946, VM cộng sản giết hại đồng bào vì những lý do sau đây: Những người có thành tích, những lãnh tụ đảng phái, những nhân tài thuộc tiềm lực quốc gia, tương lai có thể trở thành những lãnh tụ của các lực lượng đối lập của VM.  Ví dụ Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu...Những người chống đối trực tiếp VM khi họ cướp chính quyền. Ví dụ Trương Tử Anh,ï Trần Văn Thạch...Những người có chính kiến bất đồng có hại cho công cuộc tuyên truyền của VM.  Ví dụ Hồ Văn Ngà, Khái Hưng... Những cán bộ nhiệt tình của các đảng phái hay tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo) ở tất cả các cấp, từ trung ương đến làng xã. Tổng số người bị VM giết trong thời gian nầy lên đến khoảng trên 200.000 người trên toàn quốc. (Về vấn đề nầy, xin xem: Trần Gia Phụng, Án tích cộng sản Việt Nam, chương 3, “Những cuộc thủ tiêu chính trị của Việt Minh”, Nxb. Non Nước, Toronto, 2001.)

4.      Nguyên văn bản hiệp định nầy được đăng trong sách Con rồng Việt Nam của cựu hoàng Bảo Đại trang 573 (bản tiếng Việt) và trang 597 bản tiếng Pháp. [Jean Sainteny nguyên là chủ một ngân hàng tại Hà Nội, con rể của cựu toàn quyền Albert Sarraut (cầm quyền ở Đông Dương lần thứ nhất từ 1911-1914 và lần thứ nhì từ 1917-1919).]  Sau nầy, vào đầu thập niên 70, Sainteny bí mật làm liên lạc giữa chính quyền Nixon và cộng sản Hà Nội, đồng thời cũng là người sắp đặt cuộc gặp gỡ bí mật đầu tiên giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ và giúp hai ông rất nhiều trong thỏa hiệp Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1973 (Nguyễn Đình Tuyến, Những biến cố lớn trong 30 năm chiến tranh tại Việt Nam 1945-1975, Texas 1995, tr. 14).

5.      Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, Xuân Thu, California, 1990.  Bản dịch sách Le dragon d'Annam, do cựu hoàng Bảo Đại viết bằng tiếng Pháp, Nxb. Plon, Paris, 1980, tt. 317-318 (5a), 578-591 (5b).

6.      Tháng 1-1950, VM gởi 22,000 quân sang Trung Cộng huấn luyện và trang bị. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, 1939-1975 (tăp B: 1947-1954), Văn Hóa, Houston, 1997, tt. 164 (6a), 165 (6b).

7.      Chín chính phủ đó là: 1) Bảo Đại (7-7-1954). 2) Nguyễn Phan Long (21-1-1950).  3) Trần Văn Hữu (6-5-1950). 4) Trần văn Hữu (21-2-1951). 5) Trần Văn Hữu (8-3-1952). 6) Nguyễn Văn Tâm (6-6-1952). 7) Nguyễn Văn Tâm (8-1-1953). 8) Bửu Lộc (11-1-1954. 9) Ngô Đình Diệm (7-7-1954).

8.      Mười chính phủ sau đây: 1) Georges Bidault (28-10-1948 đến 24-6-1950), 2) Henri Queuille (2-7 đến 4-7-1950), 3) René Pleven (12-7-1950 đến 28-2-1951), 4) Henri Queuille (10-3 đến 10-7-1951), 5) Edgar Faure (20-1 đến 29-2-1952), 6) Antoine Pinay (8-3 đến 22-12-1952), 8) René Mayer (6-1 đến 21-5-1953), 9) Joseph Laniel (26-6-1953 đến 13-6-1954), 10) Pierre Mendès France (21-6-1954 đến 5-2-1955).  Trong khi đó, tổng thống Vincent Auriol, sau hai nhiệm kỳ từ 1947 đến 1954, được thay thế bằng tổng thống René Coty (nhiệm kỳ 1954-1958). (Theo nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp, nhiệm kỳ tổng thống là 4 năm.)  Những sự thay đổi chính phủ nhanh chóng khiến chính quyền Pháp không thể thực hiện những kế sách sâu rộng và lâu dài để giải quyết vấn đề Việt Nam có lợi cho chính nước Pháp, chứ chưa nói đến có lợi cho Việt Nam Quốc Gia.

9.      Ngày 13-5-1949, đại tướng Georges Revers, tham mưu trưởng Lục quân Pháp, được gởi sang nghiên cứu chiến trường Đông Dương. (Chính Đạo, sđd. tập B, tr.129).  Lúc trở về, ông làm bản phúc trình mật gởi lên thượng cấp đưa ra những biện pháp quân sự để giải quyết chiến tranh.  Phúc trình nầy liền bị tiết lộ ra ngoài cho Việt Minh biết. (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, Xuân Thu tái bản, Hoa Kỳ 1989, tt. 335, 346.)  Có lẽ nên thêm ở đây là theo tin của OSS, cơ quan tình báo Hoa Kỳ, từ năm 1946, trong hội nghị Fontainebleau (gần Paris) đảng Cộng Sản Liên Xô đã chỉ thị cho đảng Cộng Sản Pháp yểm trợ tối đa cho Hồ Chí Minh. (Lê Mạnh Hùng, Cộng sản Việt Nam giữa Liên Xô và Trung Quốc", đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21, số 145, tháng 5-2001, tr. 17.) [OSS: Office of Strategic Services (Văn phòng Dịch vụ Chiến lược), được thành lập do quyết định ngày 13-6-1942 của tổng thống Franklin Roosevelt.  Đến năm 1947, OSS được thay thế bằng CIA (Central Intelligence Agency) dưới thời tổng thống Harry Truman].

10.   Chính Đạo, sđd. tập B, tt.164 (10a), 179 (10b)

11.   Nguyễn Đình Tuyến, Những biến cố lớn trong 30 năm chiến tranh tại Việt Nam 1945-1975, Houston, Texas, 1995, tr. 19.

12.   Tucker, Spencer chủ biên, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, [Bách khoa từ điển chiến tranh Việt Nam, lịch sử chính trị, xã hội và quân sự], volume 1, Santa Barbara, California, 1998, tr. 411.

13.   Sau thế chiến thứ nhì, Cao Ly được chia ở vĩ tuyến 38 thành hai khu vực chiếm đóng: phía Bắc do Liên Xô và phía Nam do Hoa Kỳ.  Tại miền Nam, năm 1948 quốc hội được bầu ra và soạn thảo hiến pháp, công bố thành lập Cộng Hòa Cao Ly (Republic of Korea), thủ đô là Hán Thành (Seoul).  Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee, 1875-1965) trở thành tổng thống đầu tiên ngày 17-7-1949.  Tại miền Bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Cao Ly (Democratic People’s Republic of Korea) được thành lập ngày 9-9-1949, thủ đô là Bình Nhưỡng (Pyong-yang) do Kim Nhật Thành (Kim Il Sung, 1912-1994) làm chủ tịch.  Ngày 25-6-1950, Bắc quân cộng sản xâm lăng Nam Cao Ly, chiếm Hán Thành.  Theo đề nghị của Hoa Kỳ, ngày 27-6-1950 Liên Hiệp Quốc (LHQ) ra nghị quyết yêu cầu các nước hội viên giúp Nam Cao Ly.  Ngày 12-9-1950, đại tướng Douglas MacArthur (1880-1964) cầm đầu quân đội LHQ, bất thần đổ bộ vào Cao Ly ở Inchon.  Quân LHQ đẩy lui Bắc quân, tái chiếm Hán Thành ngày 19-9, tiếp tục truy đuổi Bắc quân, vượt vĩ tuyến 38, chiếm Bình Nhưỡng và tiến đến sông Áp Lục (Yalu River), vùng biên giới Mãn Châu (Trung Hoa).  Ngày 26-11-1950, khoảng 250.000 quân CHNDTH vượt biên giới giúp Bắc Cao Ly, đẩy lui quân LHQ xuống phía Nam, chiếm Hán Thành.  Tổng thống Hoa Kỳ là Harry Truman (1884-1972) cử tướng Matthew Ridgway (1895-1993) thay thế tướng MacArthur.  Quân LHQ đẩy lui cộng quân khỏi vĩ tuyến 38 tháng 1-1951.  Cuộc thương thuyết bắt đầu từ tháng 7-1951, và hai bên ký hiệp ước Bàn Môn Điếm (Panmunjon) ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 chia hai Cao Ly.

14.   Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Nxb. Trình Bày, Sài Gòn 1973, tt. 11 (14a), 55-58 (14b).

15.   Số lượng nầy chỉ phỏng chừng, chứ không có thống kê chính thức.  Ông Nguyễn Văn Trấn, trong sách Viết cho Mẹ & Quốc hội, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995, có đề cập đến vấn đề nầy nhưng cũng không cho biết cụ thể số lượng người tập kết ra bắc.

16.   Theo tác giả Đoàn Thêm, đến ngày 30-10-1955 là ngày chính thức chấm dứt cuộc di cư, số lượng người di cư tỵ nạn là 887.890 người. (Đoàn Thêm, 1945-1964, việc từng ngày, hai mươi năm qua, Sài gòn: 1965, Nxb. Xuân Thu, tr. 195.)  Số lượng do tác giả Đoàn Thêm là số lượng chính thức của chính phủ, thực tế ở ngoài còn cao hơn nhiều.

17.   William J. Duiker, Ho Chi Minh, Nxb. Hyperion, New York, 2000, tr 500.

18.   Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, 1939-1975 tập I-C: 1955-1963, Nxb. Văn Hóa, Houston, 2000, tr. 127, 152, 181.

19.   Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], South Royalton, Vermont: Steerforth Press, 1996, tr. 333-336.

20.   Theo Người Việt Trẻ, “Người Việt tỵ nạn và định cư”, bài 2, Người Việt Online ngày 21-10-2004 thì làn sóng người Việt tỵ nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ khoảng 125.000 người, được đưa vào 4 trại tạm cư trên đất Hoa Kỳ là: Camp Pendleto (California), Fort Chaffee (Arkansas), Eglin Air Force Base (Florida) và Fort Indiantown (Pennsylvania).

21.   Người Việt Trẻ, “Người Việt tỵ nạn và định cư”, bài 3: “Các làn sóng tỵ nạn Việt Nam”, Người Việt Online ngày 28-10-2004.

22.     Theo tài liệu trong bài báo dẫn trên của Người Việt Trẻ thì từ 1979 đấn 1990, số người Việt đến Hoa Kỳ theo chương trình ODP là 200,000 người.

23.   Trần Xuân Thời, “Dân số Việt Nam tại Hoa Kỳ và vấn đề bầu cử”, Việt Báo Online số 3496 ngày 28-10-2004. (vietbao.com). 

24.   Cũng theo bài báo của ông Trần Xuân Thời, số người Việt ở Hoa Kỳ sinh sống các tiểu bang như sau:  Alabama: 4,628; Alaska : 814; Arizona: 12,931; Arkansas: 3,974; California: 447,032; Colorado: 15,457; Connecticut: 7,538; Delaware: 817; District of Columbia: 1.903; Florida: 33,190; Georgia: 29,016; Hawaiì: 7.867; Idaho: 1,323; Illinois: 19,101; Indiana: 4.843; Iowa: 7,129; Kansas: 11,623; Kentucky: 3,596; Lousiana: 24,358; Miane: 1.323; Maryland: 16,744; Massachusetts: 33,962; Michigan: 13,673; Minnesota : 18,824; Mississippi: 5,387; Missouri: 10,626; Montana: 199; Nebraska: 6,364; Nevada: 4,420; New Hamshire: 1,697; New Jersey: 15.184; New Mexico: 3,274; New York 23,818; North Carolina: 15,596; North Dakota: 478; Ohio: 9,812; Oklahoma: 12,566; Oregon: 18,890; Pennsylvania: 30,038; Puerto Rico: 195; Rhode Island: 952; South Carolina: 4,248; South Dakota : 574; Tennessee: 7,007; Texas: 134,961; Utah: 5,968; Vermont: 980; Virginia: 37,309; Washington: 46,149; West Virginia: 379; Wisconsin: 3,891, Wyoming: 100 .

25.   Quẻ ly là một trong tám quẻ đơn của bát quái trong kinh Dịch.  Quẻ ly gồm ba hào (vạch): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang).  Ly vi hỏa là lửa, sáng màu đỏ.  Theo quan niệm của Hậu thiên bát quái trong kinh Dịch, ly đóng ở phương nam.  Như vậy, màu vàng của nền cờ mới vừa là màu cờ long tinh cũ của hoàng gia (truyền thống), vừa tượng trưng cho "thổ", thích hợp với quẻ ly để chỉ vị trí nước ta (phương nam), và cả về màu sắc (hỏa, màu đỏ, sinh thổ, màu vàng, theo ngũ hành tương sinh), đồng thời với ý nghĩa người Việt Nam máu đỏ da vàng.

26.   Đoàn Thêm, 1945-1964, việc từng ngày, hai mươi năm qua, Sài gòn: Nxb. Xuân Thu, 1965, tr. 44 (26a), 203 (26b).

27.   Tại Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam ở Ottawa (Canada), có đặt bức tượng “Mẹ bồng con chạy tỵ nạn” của tác giá Phạm Thế Trung.  Tại Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Úc-Việt ở Perth, (Australia), có đặt tượng hai chiến sĩ Việt Úc của tác giả Phạm Văn Khoát.  Tượng hai chiến sĩ Việt Nam-Hoa Kỳ tại công viên tòa thị chính Westminster của tác giả Tuấn Nguyễn.

28.   Trước đây, ở Âu Châu, việc vượt biên giới từ các nước cộng sản Đông Âu qua các nước Tây Âu xảy ra thường xuyên.  Đông đảo nhất có lẽ từ Đông Berlin (Đông Đức) qua Tây Berlin (Tây Đức) nên nhà cầm quyền Đông Đức, nhân ngày nghỉ cuối tuần, bất ngờ dựng lên Bức tường Berlin bao vây Tây Berlin tối Thứ Bảy 13-8-1961 để chận đứng làn sóng tỵ nạn.  Bức tường nầy dài 155 km (96 mi) và cao 3,6m (11.8 ft), bị dân chúng Đông Đức phá sập ngày 9-11-1989 và sau đó Đông Đức và các nước Đông Âu sụp đổ năm 1990.  Ngày nay, dân Cuba sẵn sàng để vượt biên qua Hoa Kỳ, dân Bắc Hàn xuống Nam Hàn, dân CHNDTH trốn trong các kiện hàng, trong các hầm tàu để qua Bắc Mỹ, dân Việt Nam thì tìm tất cả các cách để ra đi.

* * *

Back