QUAN ĐIỂM :
VỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM HẢI NGOẠI
Cân
Thị Bích Ngọc
Trước đây, khi đọc tập san Truyền Thông, phát hành tại Montreal, Canada - số 2, ra tháng 2 năm 2002, tôi đă suy nghĩ nhiều về việc làm của William Joiner Center (WJC), một cơ quan chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu qủa xă hội của chiến tranh. Trung tâm này thuộc University of Massachusetts Boston (UMB), đă mời hai học giả Cộng Sản từ Việt Nam sang Mỹ để viết lại căn cước (identity) của người Việt tỵ nạn Cộng Sản trong một chương tŕnh nghiên cứu có tầm cỡ quốc tế do Rockefeller Foundation tài trợ. Chương tŕnh nghiên cứu này mang tên “Reconstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” do chính trung tâm này dịch ra Việt ngữ là “Diễn Tŕnh Tái Xây Dựng Diện Mạo và Quê Hương của Người Việt ở Nước Ngoài”. Cho tới nay, sự kiện này vẫn c̣n nóng hổi tính thời gian v́ nội dung của nó bao gồm các lănh vực văn học, văn hoá, lịch sử, xă hôi, và chính trị đối với người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản. Sự liên quan giữa cá nhân tôi với vấn đề này c̣n gần gũi hơn nữa khi Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do đă viết kháng thư gửi Tiến Sĩ Kevin Bowen, Giám Đốc Trung Tâm William Joiner vào ngày 20 tháng 10 năm 2000, để bày tỏ mối quan tâm sâu sắc của y giới Việt Nam hải ngoại đối với chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng người Việt hải ngoại do trung tâm này đang tiến hành.
Thời gian nghiên cứu của chương tŕnh này là ba năm, mỗi năm nghiên cứu những vấn đề khác nhau. Một trong những đề tài nghiên cứu của năm thứ hai là “ Emerging diasporic voices: . . . What is the significance and impact of women’s voices (Những tiếng nói đang nổi lên trong cộng đồng . . . Ư nghĩa và ảnh hưởng của tiếng nói phụ nữ [1].” Tuyệt đại đa số của cộng đồng người Việt hải ngoại là người tỵ nạn Cộng Sản đang định cư rải rác trên khắp thế giới, do đó những người phụ nữ được chương tŕnh này nói tới phải được tiêu biểu bởi người phụ nữ tỵ nạn Cộng Sản, hay ít nhất có sự hiện diện của người phụ nữ tỵ nạn Cộng Sản trong số những người phụ nữ mà WJC lựa chọn. Nhưng, rất tiếc là WJC/UMB đă không làm như vậy.
Khi người Việt tỵ nạn Cộng Sản ồ ạt ra đi bằng cả đường bộ lẫn đường biển, Liên Hiệp Quốc và Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc cũng như các quốc gia trong thế giới tự do đă mở rộng ṿng tay cứu trợ và đón nhận người Việt Nam vào các quốc gia tự do với tư cách là những người tỵ nạn Cộng Sản th́ sự kiện này đă trở thành một vấn đề quốc tế và cũng đă trở thành một chương quan trong trong lịch sử thế giới. Thực tế lịch sử này đă được viết bằng máu và nước mắt của ba triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi, trong đó nửa triệu người đă chết trong kinh hoàng đau đớn trên đường đi t́m tự do. Vậy mà chương tŕnh nghiên cứu về người Việt hải ngoại, WJC không những đă đi xa mục tiêu do chính họ đề ra, mà c̣n đi ngược lại sự thật lịch sử, đưa tiếng nói của một vài cá nhân, không đại diện cho ai ra làm tiêu biểu cho cả một cộng đồng to lớn trải rộng khắp thế giới nhằm “xây dựng lại căn cước (identity) của người Việt tỵ nạn Cộng Sản”.
Trong số 26 nghiên cứu viên
được tuyển chọn cho ba năm của
chương tŕnh, có ba phụ
nữ Việt Nam đó là bà Nguyễn Thị Thanh, một
phụ nữ đi du học ở Canada từ
trước năm 1975 và sau đó ở lại Canada; cô
Kiều Linh Caroline Valverde cùng với gia đ́nh tỵ
nạn tại Hoa Kỳ lúc bốn tuổi; cô Bùi Thị Lan
Hương đi du học bên Nga trước năm
1975 rồi ở lại. Những du học sinh ở
lại không về nước sau biến cố 1975 có
mặt trong chương tŕnh nghiên cứu này mang tâm
trạng khác hẳn với những người
vượt biên, và v́ thế sự tuyển lựa nghiên
cứu viên của WJC đă mang nhiều thiếu sót v́
đă không có sự hiện diện của một
người phụ nữ nào thuộc thế hệ tỵ
nạn “thực sự”.
Vấn đề này cũng là trường hợp
của cả ông Nguyễn Bá Chung, Giám Đốc
chương tŕnh. Chính ông Hoàng Ngọc Hiến, một trong hai
học giả của chế độ Cộng Sản
tại Việt Nam được tuyển viết cho
năm thứ nhất, đă cho biết là ông Nguyễn Bá
Chung từ miền Nam Việt Nam đi du học tại
Mỹ trước năm 1975[2].
Cuốn sách “Nếu Đi Hết
Biển” của ông Trần Văn Thuỷ do nhà Xuất
Bản Thời Văn tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ
phát hành năm 2004. Đây là lần đầu tiên WJC/UMB cho
xuất bản một tác phẩm của chương tŕnh
nghiên cứu về cộng đồng người
Việt hải ngoại. Cuốn sách này được
chính thức mang danh xưng “CHƯƠNG TR̀NH
NGHIÊN CỨU CỦA UNIVERSITY OF MASSACHUSETTS BOSTON” và danh xưng này được trang trọng in trên
trang thứ nhất của cuốn sách. Tác giả Trần
Văn Thuỷ là nhà đạo diễn phim ảnh của
chế độ Cộng Sản tại Việt Nam,
được tuyển chọn viết cho năm thứ
ba của chương tŕnh.
Cuốn ‘Nếu
Đi Hết Biển’ gồm có bốn bài đầu
do tác giả Trần Văn Thuỷ viết, và bảy bài
phỏng vấn trong đó có một bài phỏng vấn
bà Nguyễn Thị Hoàng
Bắc, một người Mỹ gốc Việt, nguyên là
cô giáo bậc trung học thời Việt Nam Cộng Hoà,
được chế độ Cộng Sản lưu
dụng, nhưng năm 1986 bà đă vượt biển. Tôi
tự hỏi ở hải ngoại có rất nhiều nhà
văn nữ nhưng tại sao bà Hoàng Bắc lại
được ông Trần Văn Thủy chiếu cố.
Nh́n vào
danh sách những người được phỏng
vấn, độc giả có thể thấy trước
được chiều hướng của những câu
trả lời. Về phần bà Hoàng Bắc, bà đă
từng gửi tác phẩm của bà về Việt Nam
để xuất bản[3]
cho nên việc bà tỏ ư chê cười cộng đồng
người Việt tỵ nạn Cộng Sản
đồng thời không tiếc lời bênh vực chế
độ Cộng Sản tại Việt Nam là điều
ai cũng có thể hiểu được. Theo bà Hoàng Bắc giải thích th́
lư do bà bỏ nước ra đi chỉ v́ mấy ông công an
quá đáng mà thôi. Bà không hề nói một lời nào về
tội ác khủng khiếp của Đảng và nhà
nước Cộng Sản.
Tôi sẽ không bao giờ
đặt vấn đề về những lời phát
biểu của nhà văn nữ này, nếu đó chỉ là
lời được viết ra trong một bài báo, trong
một tập san nào đó, hoặc là một tác phẩm
mang tên bà vân vân, v́ đó là quyền tự do ngôn luận
được mọi người trong đó có tôi, hoàn toàn
tôn trọng. Nhưng v́ đây
là kết quả nghiên cứu
của một chương tŕnh do một đại
học lớn thực hiện có quy mô quốc tế và
được môt Foundation tài trợ. Ư nghĩa của
những ǵ được đưa vào trong tài liệu này
đă vượt thời gian và vượt tầm vóc
của một cá nhân để trở thành tài liệu tham
khảo có tính lịch sử. Đó chính là nguyên nhân
khiến tôi phải nêu lên
vấn đề đúng sai và thật giả, không phải
với bà Hoàng Bắc mà với chương tŕnh nghiên cứu của
đại học Massachusetts Boston, như danh hiệu này
đă được in ngay trên trang đầu tiên của
cuốn sách « Nếu Đi Hết Biển ». và đối với các nhà nghiên
cứu của những thế hệ sau -- không c̣n ai
biết bà Hoàng Bắc nữa mà chỉ biết đó là
tiếng nói của phụ nữ Việt Nam hải
ngoại.
Đây là cuộc đấu
tranh cho sự tồn tại của cái thật đối
với cái giả và cái đúng đối với cái sai. Chế độ Cộng Sản
Việt Nam với tất cả khả năng hiện có
của họ, đang ra sức xóa bỏ h́nh ảnh,
vết tích của người tỵ nạn Cộng
Sản như họ đă làm từ năm năm
trước trong chương tŕnh nghiên cứu này cũng
như hiện nay họ dùng tới sách lược
ngoại giao để đ̣i hỏi Indonesia và Malaysia
phải phá bỏ các mộ bia và tượng đài của
Thuyền Nhân Việt Nam tại các Trại Tỵ Nạn
cũ [4]. Xoá bỏ h́nh ảnh người tỵ nạn
Cộng Sản có nghĩa là xoá bỏ tội ác của
họ và trút tội lỗi trốn chạy tổ quốc
lên đầu người tỵ nạn như tài liệu
nghiên cứu này đă nêu lên trong trang 121 của cuốn ‘Nếu
Đi Hết Biển’. Do
đó, tôi tự thấy có trách nhiệm nói lên tiếng nói
trung thực với tư cách một phụ nữ của
công đồng người Việt hải ngoại
để bảo vệ chính ḿnh và bảo vệ những
người tỵ nạn chân chính khác nhằm ghi lại
cho hậu thế những h́nh ảnh của người
phụ nữ Việt Nam hải ngoại.
Khi đoc những câu trả lời phỏng
vấn của của bà Hoàng Bắc, tôi thấy xót xa cho
đất nước Việt Nam. Không biết khi liều
chết ra đi bà đă mang theo tâm trạng nào, nguyện vọng ǵ cho một
đất nước, một dân tộc khốn khổ,
v́ không chịu được ách thống trị tàn ác
của Cộng Sản nên hàng triệu người phải
lao vào cái chết để t́m tự do. Là người
đă từng vượt biển Đông, thuộc thế
hệ 1.5, dù không trải qua những truân chuyên khổ ải
như những bà mẹ, những người chị
Việt Nam trong những nổi trôi của đất
nước, thế nhưng tôi vẫn nhớ những
nguyên nhân đă thúc đẩy
gia đ́nh tôi ra đi…
Tôi
vẫn nhớ những mẩu chuyện bi thương
về thuyền nhân trong thời gian ở trại tỵ
nạn, và nhiều năm sau đó. Đến bây giờ,
ba mươi năm sau cuộc chiến, những điêu
tàn trên đất nước, những thảm kịch
đau thương vẫn c̣n tiếp diễn tại
quê nhà. Cũng v́ thế mà tôi đă
mạo muội đưa ra một quan điểm
về phụ nữ Việt Nam hải ngoại, và
những suy tư trăn trở của bản thân --
một phụ nữ Việt Nam tỵ nạn cộng
sản. Và đây cũng là một tiếng nói khác với bà
Hoàng Bắc - một người đi tỵ nạn
Cộng Sản nhưng h́nh như đă tự nguyện
chối bỏ căn cước tỵ nạn của chính
ḿnh
Người
phụ nữ Việt Nam luôn luôn là h́nh ảnh đẹp và
trong sáng trong văn học sử chính thống cũng
như trong truyền thuyết dân gian. Trong hậu bán
thế kỷ 20, do hoàn cảnh chiến tranh và xă hội,
chân dung của người phụ nữ Việt Nam đă
đổi mới rất nhiều. Đây là những thay
đổi bắt buộc, diễn ra theo những thăng
trầm của dân tộc. Trong suốt quá tŕnh lịch
sử, người đàn ông Việt Nam phải ra đi
chiến đấu bảo vệ quê hương nên
người đàn bà phải đảm nhận hết
mọi công việc gia đ́nh và xă hội đúng theo tinh
thần hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của
nữ sĩ Đoàn Thị Điểm:
‘‘Nuôi mẹ chàng, thiếp khôn làm gái, Dạy con thơ, thiếp phải làm trai’’
Sau tháng
tư 1975, trong một bối cảnh xă hội nhiễu
nhương, một hoàn cảnh kinh tế khánh tận, khi
hàng trăm ngàn người đàn ông bị lùa vào các
trại tù cải tạo, chức phận của
người phụ nữ Việt càng trở nên trọng
yếu. Hơn lúc nào hết, họ bị cuốn xoáy vào
những thử thách cam go, gian khổ nhất do chế
độ Cộng Sản tạo ra. Họ phải thay
thế chồng bôn ba t́m kế sinh nhai nuôi sống gia
đ́nh, dạy dỗ con cái, phụng dưỡng cha
mẹ già, đồng thời phải lặn lội thân c̣
nuôi chồng ở những trại tù xa xôi. Sau những
năm tù đày, khi người chồng được
thả về, họ lại cùng chồng hoặc một
ḿnh xoay sở t́m cách đưa gia đ́nh đi vượt
biên thoát khỏi địa ngục đỏ. Trong
những hoàn cảnh gian nan ấy, người phụ
nữ Việt Nam đă bộc lộ rơ đức tính
cao quư của ḿnh. Biết bao gia đ́nh được
tồn tại nhờ người vợ tháo vát, thủy
chung. Cho đến nay, trong văn chương Việt Nam
tại hải ngoại đă có biết bao tác phẩm thuật
lại quăng đời cơ cực và tấm gương
can đảm, trung kiên của người phụ nữ
Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản.
Thiết nghĩ trong chương tŕnh nghiên cứu về
công đồng người Việt hải ngoại
của WJC có mục dành cho tiếng nói phụ nữ
cũng là điều hiển nhiên, thế nhưng họ
đă không đưa vào chương tŕnh những tiếng
nói trung thực, tiêu biểu cho tuyệt đại đa
số phụ nữ hải ngoại là những tiếng nói
của người phụ nữ thực sự tỵ
nạn Cộng Sản.
Tháng tư 1975 khởi đầu cho một cuộc di tản vĩ đại và bi đát nhất trong lịch sử đấu tranh của nhân loại, hàng triệu người đă liều chết phó thác sinh mạng ḿnh trong những con thuyền nhỏ nhoi trên biển cả, bất kể phong ba băo tố để đi t́m tự do, trong đó có tới nửa triệu người đă ch́m dưới đáy biển hoặc táng thây trong rừng sâu, ““ nếu có ba người vượt biên th́ chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển v́ bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù [5]”. Vậy th́ v́ lư do ǵ mà gần ba triệu người phải bỏ nước ra đi trong khi bản chất của người Việt Nam là gắn bó với gia tiên đất tổ. Thảm trạng lịch sử đó đă trở thành bản cáo trạng đanh thép để tố giác tội ác của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam trước sự phán xét của nhân loại. Và cũng trong bối cảnh đau thương đó, Cộng Đồng người Việt hải ngoại được h́nh thành, trong đó có những phụ nữ mà chương tŕnh nghiên cứu của WJC/UMB nêu lên trên danh nghĩa, nhưng hoàn toàn không có trên thực tế.
Cộng
đồng người Việt hải ngoại có lập
trường chống cộng rất rơ ràng, lá cờ vàng ba
sọc đỏ là biểu hiện ước muốn
tự do dân chủ và cũng là biểu tượng của
truyền thống văn hoá của người Việt
tỵ nạn Cộng Sản trên khắp thế giới.
Trong cộng đồng người Việt, lực
lượng phụ nữ khá đông đảo so với
các nhóm di dân khác. Năm 1990, tại Hoa Kỳ tỉ lệ
nam nữ là 113 người nam cho 100 người nữ[6]. Người phụ nữ giữ
một chỗ đứng quan trọng trong cộng
đồng người Việt với nhiều thay
đổi trong môi trường mới. Qua những thử
thách gian khổ hiểm nghèo của chặng
đường dài trên biển cả, những tháng năm
dài trong trại tỵ nạn và những thời gian
đầu hội nhập với xă hội mới,
người phụ nữ Việt Nam hải ngoại đă phải thay
đổi để thích nghi với nền văn hoá
mới. Có thể nói truyền thống luân lư và quá khứ
gian khổ đă tôi luyện người phụ nữ
Việt Nam thành những người có khả năng thích
ứng rất cao. Thêm vào đó trào lưu nữ quyền ở
xă hội Tây Phương đề cao quyền lợi
người nữ, sự hội nhập của họ
trong các quốc gia mới khá dễ dàng so với nam
giới. Tuy không chủ tâm nhưng họ đă biến
đổi, địa vị họ được
thăng tiến, họ đă tiến lần đến
mức b́nh quyền với nam giới. Trước tháng
tư 1975, phần lớn phụ nữ c̣n bị giới
hạn trong khuôn khổ gia đ́nh, họ là những
nội tướng đảm đang, chu toàn việc
tề gia nội trợ. Qua đến đất
nước lưu cư, v́ hoàn cảnh, rất nhiều
người đă phải dấn thân ra ngoài xă hội
hoặc để nuôi gia đ́nh trong thời gian người
chồng đi học lại, hoặc để cùng
chồng đóng góp vào ngân quỹ gia đ́nh. Con
đường học vấn tại xứ người
là yếu tố thăng tiến quan trọng của
người phụ nữ Việt Nam. So với khi c̣n
ở trong nước, tỉ số phụ nữ hải
ngoại đi học đông hơn, học đủ mọi
ngành và học đến nơi đến chốn.
Đời sống ở xứ người cho họ
nhiều khả năng chọn lựa, và họ ư thức
được con đường tiến thân hữu
hiệu nhất mở đầu bằng cách bước
chân ra ngoài xă hội đi học, đi làm.
Cũng v́ thế mà phụ nữ Việt Nam hải ngoại đă đạt được địa vị khả quan hơn ngày trước. Họ là những người đàn bà cặm cụi làm việc trong các hăng xưởng, họ là những nữ bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, y tá, kỹ sư, khoa học gia, giáo sư, chính khách, nữ sinh… Chân dung người phụ nữ Việt Nam hải ngoại thật đa dạng. Nh́n chung, đa số phụ nữ lưu vong vẫn bảo tồn giá trị của nền văn hóa cổ truyền, họ lại biết dung ḥa những tinh túy của văn hóa xứ người để tạo nên nét đặc thù của người Việt hải ngoại. Đó là những người đàn bà có tinh thần tự lập, có óc sáng tạo, nhiều người đă gây dựng được sự nghiệp vững vàng trong xă hội mới, nhưng vẫn đặt giá trị quan yếu trên nền tảng gia đ́nh, do đó chức năng đầu tiên của họ là giúp đỡ chồng con, quán xuyến gia đ́nh. Từ những tiềm năng này chúng ta dễ dàng h́nh dung được vai tṛ quan trọng của người phụ nữ trong cộng đồng người Việt tỵ nạn trên mọi địa hạt.
Nhiều
quốc gia trên thế giới đă mở rộng ṿng tay
đón nhận những người tỵ nạn từ
“trận băo đỏ” tháng tư 1975 v́ ḷng nhân đạo.
Nhưng không bao lâu sau đó, đại đa số
những người tỵ nạn này đă trở thành
những công dân tốt trong xă hội mới. Họ đi
làm và đóng góp vào việc xây dựng quê hương
mới. Họ là những thành
viên thông minh, chăm chỉ, tự trọng. Người
phụ nữ Việt Nam đă đạt được
nhiều thành quả trong môi trường mới, họ có
mặt khắp nơi, trong nhiều lănh vực. Báo chí
tại Mỹ thường đăng những tấm
gương thành công của phụ nữ gốc Việt.
Có người là phụ tá Thống Đốc, có người
vừa đắc cử vào Hội Đồng Giáo Dục
một học khu lớn ở miền Nam Cali, có
người tốt nghiệp ưu hạng Trường Vơ
Bị Westpoint, có người là khoa học gia phát minh vũ
khí mới cho quân lực Mỹ, có người đang là
nữ chánh án Hoa Kỳ, nhiều phụ nữ Việt Nam
điều hành các cơ sở thương mại lớn
trong những thành phố sầm uất của Hoa Kỳ …
Nét phác họa trên đây về người phụ nữ
Việt Nam hải ngoại thật khác với sự mô
tả của ông Nguyễn Ngọc Hà, một nhà trí thức
ở trong nước, theo ông số người Việt di
tản mắc bệnh tâm thần lên tới tỷ số
bốn mươi lăm phần trăm [7]
.
Vai tṛ
hệ trọng nhất của phụ nữ trong cộng
đồng người Việt hải ngoại là việc
dưỡng dục con cái, lớp người của ngày
mai. Nhiều phụ nữ
thuộc thế hệ tỵ nạn, ra đời làm
việc với vốn sinh ngữ nghèo nàn hoặc không có,
hoặc tuổi tác cao, không có điều kiện đi
học, phải lam lũ cả ngày trong các hăng may hoặc
công việc làm bằng tay, chân mà không đ̣i hỏi khả
năng kỹ thuật để nuôi con ăn học.
Đă có bao nhiêu người mẹ, mắt long lanh lệ
khi dự lễ ra trường của con cái nay đă thành
đạt trên đường học vấn. Họ đă khóc v́ sung
sướng khi thấy sự hy sinh của ḿnh đă
đơm trái. Bằng những việc làm đơn
giản, nhỏ bé, họ đă góp phần lớn lao trong
việc đào tạo trí tuệ cho quê hương thứ
hai của họ. Tới nay, trong số 2,700,000
người tỵ nạn có đến hơn 300,000 chuyên
viên kỹ thuật trên các nước tự do và con số
này sẽ c̣n tăng lên măi trong tương lai[8].
Đây cũng là một h́nh thức đền ân, trả
nghiă của công đồng người Việt hải
ngoại đối với quốc gia đă đón nhận
gia đ́nh họ. Mối ưu tư lớn của
người Việt hải ngoại hay nói riêng là của
những bà mẹ Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản
là dạy dỗ thế hệ con cháu biết duy tŕ t́nh
cảm dân tộc nhằm bảo vệ cái vốn văn
hoá cổ truyền để giữ vững căn
cước Việt Nam của ḿnh, từ đó mới có
thể nghĩ tới việc góp phần kiến thiết
quê cha đất tổ khi t́nh h́nh chung cho phép. Vấn
đề này đă mở ra cho phụ nữ hải
ngoại trọng trách dạy con nói tiếng mẹ đẻ và nuôi
dưỡng t́nh tự dân tộc và những hiểu
biết về quê cha
đất tổ. Phụ nữ hải ngoại đă có
nhiều cố gắng để thực hiện trọng
trách này, một điển h́nh là các bà mẹ Việt Nam
đă có nhiều nỗ lực đóng góp vào việc phát
triển các lớp dạy Việt ngữ, truyền bá
văn hoá Việt. Đó chính là h́nh ảnh và tiếng nói
của phụ nữ Việt Nam hải ngoại. V́ sao WJC
phải tốn công đem đảng viên trung kiên của
đảng Cộng Sản từ Việt Nam sang Mỹ
để t́m gặp một phụ nữ như bà Hoàng
Bắc, người đă tự thú nhận ngay trong câu
trả lời phỏng vấn là bà
không hề tham dự sinh hoạt cộng đồng,
các con của bà tuy đă trưởng thành nhưng “lại
càng không (sic!) sinh hoạt
cộng đồng? ”[9]
Viết
tới đây, hôm nay là khoảng hai tuần lễ sau
cơn băo Katrina. Trận băo này đă có độ tàn phá
khốc liệt nhất trong lịch sử của Hoa
Kỳ. Chính phủ liên bang
phải ban hành lệnh cấp cứu khẩn cấp trong
ba tiểu bang Louisiana, Mississippy, Alabama; trong đó, vùng New
Orleans thuộc tiểu bang Louisiana bị tổn thất
nặng nề nhất. New
Orleans có một phần lănh thổ thấp hơn mực
nước biển nên cả thành phố ch́m dưới
nước trong nhiều ngày, nhà cửa hầu như
bị tàn phá hoàn toàn, tỷ số thương vong lên
tới hàng chục ngàn và dân cư trong vùng phải đi
tỵ nạn tại nhiều thành phố lân cận. Hoạt động cứu
trợ của chính quyền liên bang, tiểu bang và thành
phố đă được tiến hành rất chu đáo.
Nhưng trong mấy ngày đầu, hàng trăm ngàn
người dân cứ ồ ạt chạy ra khỏi thành
phố, việc cứu trợ cấp thời bị ứ
đọng. Đây là lúc tinh
thần “lá lành đùm lá rách” của người Việt Nam
đối với đồng hương Việt Nam
bộc phát một cách đáng thán phục.
Các gia
đ́nh tỵ nạn băo Katrina đều bỏ lại nhà
cửa, tài sản, ra đi với chiếc xe hơi và hai
bàn tay trắng tới thành phố xa lạ. Tổ chức cộng
đồng tại các địa phương đă kịp
thời tổ chức tương trợ. Nhưng chưa
đợi tới cơ quan cấp cứu của chính
quyền, người Việt tại vùng an toàn mang xe
đón người Việt lâm nạn về nhà ḿnh dầu
chẳng quen biết họ hàng ǵ.
Ban chấp hành cộng đồng người Việt
tại Louisiana là những người tự nguyện
phục vụ đồng bào, nhà cửa của những
vị này cũng đang nằm dưới đáy
nước, vậy mà các vị đó cũng đă xin chính
quyền sở tại của vùng an toàn tạm cấp cho
một nơi làm văn pḥng liên lạc để ban
chấp hành cộng đồng lo giúp đỡ
đồng bào tỵ nạn, xin học cho các cháu, lo đủ loại giấy
tờ cho các gia đ́nh tỵ nạn, t́m kiếm thân nhân
bị thất lạc, đón nhận cứu tề
để phân phối. Cộng đồng người
Việt từ những tiểu bang khác quyên góp để
yểm trợ cho đồng bào.
Nhiều hăng buôn, và một vị dân biểu tiểu
bang là người gốc Việt đă dùng hết
khả năng ḿnh để
cứu trợ đồng bào Việt Nam. Nhiều gia đ́nh Việt Nam
đă khóc nghẹn ngào v́ cảm động khi kể
lại mối t́nh đồng hương trong cơn
hoạn nạn . . . Radio và các đài truyền h́nh Mỹ
cũng như của cộng đồng người
Việt liên tục truyền đi những h́nh ảnh và
lời phát biểu đầy xúc động qua
nước mắt của các nạn nhân thiên tai khủng
khiếp khi nhắc tới t́nh đồng bào . . .
WJC/UMB nghĩ sao về những lời miệt thị đối với cộng đồng được ghi trong tài liệu nghiên cứu của họ qua lời nói của một phụ nữ do họ cố ư lựa chọn để tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam hải ngoại. Nếu WJC/UMB có can đảm hỏi những người phụ nữ trong cơn hoạn nạn này th́ họ sẽ nói ǵ về cộng đồng người Mỹ gốc Việt? Một chương tŕnh nghiên cứu như thế, tự nó có xứng đáng tồn tại hay không? Ngoài ra, người phụ nữ tỵ nạn cũng đă và đang góp phần trực tiếp trong việc xây dựng lại quê hương Việt Nam. Khoảng ba tỷ Mỹ kim mà người Việt gửi về nước hàng năm trong đó có sự đóng góp đáng kể của phụ nữ, vừa đi làm cùng chồng vừa giỏi tính toán trong chi tiêu để dành dụm tiền gửi về quê nhà giúp đỡ thân quyến, thương phế binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, hoặc làm công tác từ thiện, hoặc xây dựng trường học cho những điạ phương nghèo khó tại quê nhà. Chính số ngoại tệ khổng lồ này đă bao năm qua đưa quê hương lầm than ra khỏi cảnh khánh kiệt.
Trong lănh
vực văn học, sự đóng góp đông đảo
của nữ giới đă làm cho nền văn học
hải ngoại thêm phần phong phú. “Tiếng nói đang lên
của phụ nữ hải ngoại” xuất hiện
dưới h́nh thức đa thể: Văn, thơ,
khảo cứu, dịch thuật, tùy bút… Văn học
phản ánh đời sống của một tập
thể hay một xă hội. Với người Việt
tỵ nạn, nền văn học lưu vong biểu
hiện quyết tâm bảo tồn và phát huy văn hóa
Việt Nam tại hải ngoại. Đó là tiếng nói dân
tộc, là t́nh hoài hương, là nỗi khát khao tự do,
nhân quyền cho nước nhà. Nền văn học lưu
vong biểu hiện ư chí chống cộng của những
người tỵ nạn đối với chế
độ độc tài đảng trị ở trong
nước và cũng là ngọn lửa thiêng để nung
đúc tinh thần yêu nước, ước muốn đoàn
kết giữa những người Việt sống
rải rác khắp nơi trên thế giới như nhận
định của ông Nguyễn Ngọc Hà, một
đảng viên Cộng Sản, đă viết: “Trừ
một số sáng tác rất lẻ tẻ, hầu như
toàn bộ sáng tác văn học ở nước ngoài
đều bị bao trùm phủ kín bởi không khí chống
Cộng dày đặc vừa gay gắt, vừa thâm
độc…[10]”.
Sự
hiện diện đông đảo của nữ giới
trong văn học hải ngoại phải chăng đă
biểu lộ hoài băo tranh đấu cho tự do dân chủ
của người phụ nữ tỵ nạn?
Từ
bao năm qua, phụ nữ luôn luôn hiện diện trong các
sinh hoạt cộng đồng: tranh đấu cho nhân
quyền, cứu trợ người tỵ nạn, tham
dự các phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ
ở trong nước … Nhiều khuôn mặt phụ nữ
của cả thế hệ “đang lên” lẫn thế
hệ tiền bối của người Việt hải
ngoại xuất hiện như những ngôi sao sáng. Nói tóm
lại, phụ nữ Việt Nam hải ngoại ngày nay là
một tiềm lực năng động đang phát
triển về nhiều phương diện, sẵn sàng
đón nhận công cuộc xây dựng lại quê
hương khi thời cơ
cho phép.
.
Đất
nước hiện tại vẫn đang oằn oại
trong gọng kềm Cộng sản. Những thảm
trạng xă hội luôn tiếp diễn trên quê hương
dấu yêu. Niềm tự hào về bốn ngàn năm
văn hiến đang có nguy cơ tan loăng trong tim của các
thế hệ sanh sau, Việt Nam vào thiên niên kỷ mới
đang trở về thời nguyên thủy sơ khai
dưới sự thống trị của đảng
Cộng Sản. Định mệnh dân tộc hay tội ác
của nhà cầm quyền đương thời, đă
đẩy hàng chục ngàn thiếu nữ, trẻ em ở
Việt Nam vào cuộc hành tŕnh oan trái nơi xứ
người, nơi mà các nhụy xanh Việt Nam trở
thành những món hàng giải trí rẻ tiền cho đàn ông
tứ xứ. Trách nhiệm thuộc về ai khi trí tuệ,
lư tưởng của tuổi trẻ quốc nội
đang bị mai một giữa những nghèo đói,
những băng hoại xă hội. Đă bao năm rồi,
đất nước không c̣n chiến tranh, nhưng sao
vẫn nghẹn ngào trong niềm đau chậm tiến.
Những người phụ nữ Việt Nam, nhất là những người thuộc
thế hệ của chúng tôi không qua sông với con
thuyền quá khứ trĩu nặng hận thù. Nhưng
chúng tôi có trí óc phán xét, nh́n lại lịch sử,
đối diện hiện tại để phán đoán
về tương lai. Chúng tôi không muốn để
lại di sản cho thế hệ con em nỗi nhục làm
người dân của một trong những nước
lạc hậu nhất thế giới. Trong thâm tâm của
tất cả những người Việt tỵ nạn
c̣n ư hướng dân tộc đều ấp ủ
nguyện vọng đóng góp một chút ǵ cho quê
hương. Nhà cầm quyền Cộng Sản rất
thấu hiểu điều này nên đang ra sức sử
dụng những thủ đoạn gian trá dưới
những danh xưng ḥa hợp, ḥa giải hầu có thể
khai thác triệt để những tài lực của
CĐNVHN. T́m hiểu lịch
sử qua các kinh nghiệm kinh hoàng đẫm máu của các
chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn
Giai Phẩm, Mùa Xuân Mậu Thân Huế, chính sách tù cải
tạo, vùng kinh tế mới vv…; để nhận rơ
bộ mặt bạo tàn của chế độ Cộng
Sản, giới phụ nữ hải ngoại không thể vướng mắc
vào cạm bẫy hoà hợp hoà giải một chiều đang
được WJC/UMB nỗ lực tô son
điểm phấn qua những tài liệu quá lộ liễu như cuốn
“Nếu Đi Hết Biển” của nghiên cứu viên
Trần Văn Thủy, một đảng viên Đảng
Cộng Sản Việt Nam.
Ba mươi
năm sau cơn ‘hồng thủy’ tháng tư 1975,
những người thuộc thế hệ một
rưỡi và thế hệ thứ hai của cộng
đồng người Việt hải ngoại đă
trưởng thành trong không khí tự do dân chủ ở
hải ngoại. Xa quê hương đă lâu, có những
chuyện xưa đă bị phai mờ trong trí nhớ.
Nhưng h́nh ảnh ngôi trường cổ kính ngày xưa
với bao tà áo trắng bay lượn trong ánh nắng hanh
vàng của những chiều tan học vẫn c̣n in dấu
rất đậm nét trong tâm khảm tôi. Song song vào đó là
kư ức về những tư lự, những ngậm ngùi
trước tuổi của chúng tôi về một ngày mai vô
định, một tương lai tăm tối trên
đất nước thân yêu của ḿnh; chúng tôi là thành
phần con cháu ngụy quân, sân trường đại
học sẽ không bao giờ in dấu chân chúng tôi. Giữa
những khắc khoải đó, tôi đă ra đi và may
mắn đến được bến bờ tự do.
Tựa như con chim bị giam hăm, tôi đă tung bay trong
bầu trời rộng mở. Nh́n về quê hương,
nhớ về trường cũ bạn xưa, ḷng bồi
hồi nỗi thương cảm, phẫn uất cho
bạn cũ, những người cùng ôm ấp những
ước vọng tương lai như tôi đă phải
nh́n mơ ước của ḿnh tan như như bọt sóng
biển. Và đến bây giờ họ lại phải nh́n
những bọt sóng oan khiên nơi các thế hệ sau.
Chế độ Cộng sản đă hy sinh bao nhiêu
thế hệ đi lên, đă vùi dập bao giấc mơ
rất chân chính của tuổi học tṛ để
đưa đến một hệ quả tai hại ngày
nay: đạo đức và dân trí suy đồi, đất nước tụt
hậu.
Để
tuổi trẻ quốc nội vẫn c̣n những
ước mơ trong sáng, để thanh thiếu niên
hải ngoại không có mặc cảm về một quê
mẹ chậm tiến, nghèo nàn, chúng tôi không có sự
lựa chọn nào hơn là tiếp tục con
đường cha anh đă đi, tranh đấu chống
độc tài đảng trị Cộng sản. Hy
vọng rằng ư nghĩa trọng đại của công
cuộc đấu tranh này sẽ giúp chúng tôi vượt qua
được những tỵ hiềm, những khác
biệt cá nhân gây nên sức mạnh đoàn kết hầu
tiến bước đến thắng lợi.
Gần ba mươi năm sau, tôi
cảm nhận rằng ḿnh vẫn là thuyền nhân. Lần này, con thuyền cưu
mang cả 80 triệu người dân Việt Nam. Mong sao toàn
dân Việt sẽ khéo tay chèo lái để đưa
được con thuyền dân tộc đến bến
bờ Tự do, Dân chủ.
Cấn Thị Bích
Ngọc
October 20, 2005
GHI CHÚ
[1] University of Masachusetts Boston,
“Rockefeller Foundation Humanities Fellowship - UMass Boston Program Plan”, 1999
p. 3
[2] Hoàng Ngọc Hiến,
“Hợp Lưu” số 32,
Tháng 1 năm 1997 , Fountain Valley, California, trang 32
[4] Bản tin Việt ngữ và h́nh của đài phát thanh
BBC,
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/06/050615_vietnammemorial.shtml
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/06/050615_boatpeoplemonument.shtml
[6] Trần Minh Tùng, ‘‘Trải qua những cuộc bể dâu: Di cư và người phụ nữ Việt Nam hải ngoại’‘ Định Hướng số 19 , Westminster , Hè 1999, trang 106
[7] Nguyễn Ngọc Hà,
“Về Người Việt Nam Định Cư Ở
Nước Ngoài” Nhà
xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1990, trang 28
[8] Nguyễn Châu và Nhóm Ngiên Cứu Lịch Sử Việt Nam Cận và Hiện Dại, Việt Nam, ‘‘Cộng Dồng Người Việt Tỵ Nạn trên thế giới’‘, Santa Clara, California , 2004, trang 39-63