HÀ NỘI CÓ MUỐN  HÒA GIẢI  VỚI NGƯỜI VIỆT  Ở NƯỚC NGOÀI KHÔNG?           

Phạm Trần

Trước khi tìm hiểu xem kế hoạch hoá Việt kiều của Nhà nước Cộng sản Việt Nam được thực hiện bằng cách nào, chúng ta nên biết  có mấy  thành phần người Việt Nam ở nước ngoài.


Lấy thời điểm 1975  làm mốc, chúng ta có thể chia  số trên ngót 3 triệu người Việt Nam đang sinh sống tại 90 quốc gia trên thế giới ra 3 thành phần: 1) Thành phần người Việt chạy trốn Cộng sản từ miền Nam Việt Nam ra đi từ năm 1975, quan trọng nhất là số người vượt biển bằng thuyền và đi đường bộ đến các nước Đông Nam Á tìm tự do. 2) Thành phần người Việt gốc Trung Hoa bị đuổi khỏi Việt Nam trong thời gian có xung đột  chiến tranh biên giới  giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1979. 3) Thành phần công nhân người Việt Nam do Hà Nội gửi đi lao động tại Liên bang Xô viết và các nước Cộng sản Đông Âu trước năm 1975 và về sau.

Thành phần thứ nhất, chiếm đa số đang sinh sống ở nước ngoài, nhiều nhất tại Hoa Kỳ với số trên 1 triệu người (Số thống kê của Việt Nam ghi khoảng 1 triệu 300 nghìn (VietNamNET, 4-1-2005)),  có  lập trường  chính trị rõ nét chống chính sách cai trị độc tài,  và phản dân chủ của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN).


Thành phần thứ hai, trong số này có cả người Việt gốc Hoa ra đi từ miền Bắc Việt Nam, đã  phải chung tiền, nộp  vàng và trao tài sản cho Nhà nước để được ra đi yên thân vì lý do kinh tế hơn chính trị.


Thành phần thứ ba, hơn 200 nghìn  người  trốn ở lại hoặc được hợp pháp hoá qua hôn nhân với người địa phương, sau cuộc tan rã của các chính phủ  Cộng sản thuộc khối Liên xô và chư hầu ở Đông Âu từ 1989 đến 1992. Nhiều người trong số này chấp nhận sống chui bất hợp pháp hơn là quay về Việt nam vì về nhà không có công ăn việc làm, tập trung đông  nhất   tại Nga, Ba Lan và Đức. Họ cũng  đã  đem nhiều lợi nhuận kinh tế cho Việt Nam qua việc gửi tiền và quà  về giúp gia đình ở Việt Nam. 


Lập trường của thành phần này nghiêng về kinh tế nhiều hơn chính trị  vì họ  bị  chi phối  bởi liên hệ gia đình ở trong nước và với chế độ đã gửi họ đi lao động.  Một  số tổ chức chính trị - xã hội  của giới  trí thức được Hà Nội gửi đi du học hay tự túc được thành lập, sinh hoạt khá đều đặn và có lập trường đối lập với Hà Nội.


Từ thực tế này, chính sách của đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam (CSVN) đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nói chung, cũng được dựa theo ba thành phần để họ tùy cơ ứng biến, miễn sao đạt được  mục tiêu thu lấy càng nhiều ngoại tệ từ các đối tượng này càng tốt.


Dịch vụ chuyển tiền về nước giúp gia đình của người Việt ở nước ngoài đã giúp   Hà Nội đã thu vào mỗi năm trên 3 tỷ Mỹ  cho ngân sách quốc gia mà không mất một đồng vốn nào. 

Một bản tin đăng trong báo điện tử của Việt Nam, VietnamNet ngay 4-1—2005 cho biết :”Từ năm 2000 đến nay, lượng ngoại tệ kiều hối luôn có xu hướng gia tăng: 2000 và 2001 là 1,76 tỷ USD, 2002 là 2,154 tỷ USD; 2003 là 2,63 tỷ USD. Ước tính năm 2004 là 3,9 tỷ USD.”

Bản tin viết tiếp :” Trên thực tế, con số xấp xỉ 4 tỷ USD mới chỉ là lượng tiền chuyển về qua các cơ quan chính thức trung chuyển kiều hối như ngân hàng, các tổ chức chuyển tiền. Còn không ít người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về Việt Nam qua các con đường không chính thức.”

Đây là mối lợi kinh tế lớn và quan trọng nhất của đảng CSVN nên các kế hoạch “giăng mồi, mắc bẫy” đối với người Việt  ở nước ngoài  đã được Bộ Chính trị đề ra trong Nghị quyết  số 36-NQ-TW ngày 26-3-2004 về “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”.


Nghị quyết  4  Đề mục, 19 điều  của  Hà Nội  đã phản ảnh đầy  đủ và rõ ràng nhất từ trước đến nay về  chính sách được gọi là “đại đoàn kết dân tộc” của đảng CSVN.  Nhưng thực chất ý nghĩa của cụm từ “đoàn kết” của Hà Nội là bắt liên lạc  giữa đảng CSVN với 3 thành phần người Việt ở nước ngoài chứ không phải giữa những người dân ngoài chính quyền và ngoài đảng trong nước với những người Việt sống ở nước ngoài.


Vì vậy Nghị quyết đã  nhập nhằng viết rằng : “Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.”

Hay còn  viết theo lối  vơ đũa cả nắm  :” Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hoá và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước càng củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài. Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.”

Nội dung này chỉ dành cho những người Việt Nam ở nước ngoài đã đi theo CSVN từ lâu và  những cảm tình viên của chế độ. Tuyệt nhiên nó không  phản ảnh trung thực và chính xác  thái độ  của đại đa số người Việt chạy trốn Cộng sản ra nước ngoài.

Vì vậy, Nghị quyết 36 đã nhìn nhận:”Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của  công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu  đúng về tình hình đất nước. Một số  ít người  đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam.”


Thứ nhất, tại sao phải  đi về Việt nam mới thấy “những thành tựu của công cuộc đổi mới” ?  Nếu chỉ lấy những căn nhà lầu máy lạnh, xe hơi bóng lộn của đội ngũ cán bộ và nhìn vào những bữa tiệc liên hoan, những gói tiền giấu trong phong bì trao tay nhau, những bữa nhậu của cán bộ tiêu tiền bằng cả đời tiền công lao động của nhân dân  để đo lường tiến bộ so với thời đói rách trước 1986 thì sự hãnh diện này là một điều nhục nhã.


Thứ nhì,  nếu  tiến  bộ  cũng chỉ được căn cứ vào những khách sạn, công ty của nước ngoài và những Doanh nghiệp, Công ty của Nhà nước  thì đây là những tiến bộ giả tạo vì mức thu nhập đồng niên của người Việt Nam, sau  bao nhiêu  năm cố gắng nâng lên cũng chỉ đạt bình quân khoảng 420 Mỹ kim/Năm. Người dân ở những vùng xa và vùng sâu chỉ thu nhập từ 70 đến 100 Mỹ Kim/năm là nhiều. 

Nhưng số thu nhập 420 Mỹ kim lại  được  tính từ  số  lợi nhuận chung của cả nước trong một năm được cơ quan Ngân hàng Thế giới đem  chia  đều cho mỗi đầu người (Việt Nam hiện có  82 triệu 500 ngàn người) chứ không phải là số thu nhập thật do người dân tự mình làm ra và đã có trong tay. Vì vậy số lợi tức 420 Mỹ kim chỉ là con số ảo không có gía trị trong thực tế. Tại những quốc gia chậm tiến như Việt Nam, đời sống thật của  người dân chỉ được đánh gía khi ta nhìn vào bữa ăn hàng ngày  của họ.


Ở Việt Nam ngày nay (2005), mức  chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và thôn quê càng ngày càng lan  rộng và ăn  sâu, có nơi lên đến 90 % như ở các vùng Dân tộc ít người, vùng ven biển Trung Bộ xuống đến Cà Mau và vùng Hải đảo.


Thứ ba, thế nào gọi là “đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước”  khi  đảng CSVN lên án sự  chống đối của người Việt ở nước ngoài ?  Nếu đảng CSVN biết  “lợi ích chung của dân tộc”  và “lợi ích riêng của đảng CSVN” không  có cùng một nghĩa giống nhau thì việc chống chính sách cai trị độc tài, độc đảng và đàn áp dân chủ, tự do và chà đạp nhân quyền  trong nước không thể nào được coi  là   “chống phá đất nước ”. 
Đất nước là của chung toàn dân còn đảng thì chỉ là của trên 1 triệu đảng viên mà thôi. Không ai trao cho đảng CSVN quyền cai trị đất nước vì chưa bao giờ đảng này dám tổ chức một cuộc Trưng cầu ý kiến nhân dân xem họ có tín nhiệm mình không. Người dân trong nước chì làm nhiệm vụ “Đảng bảo dân bầu” trong tất cả các cuộc được gọi là bầu cử từ Hội đồng Nhân dân xã lên đến Quốc hội.

Ngoài ra, trong Nghị quyết 36 Hà Nội còn vận động  sự đóng góp trí tuệ (chất xám) của người Việt ở nước ngoài để mở mang đất nước, nhất là trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và chuyên môn mà Việt Nam đang cần.
 
THIẾU NGHIÊM CHỈNH – GÀI BẪY

Nhưng CSVN  có  chứng minh lời nói bằng sự  thành thật  của họ không ?
Trước hết,  Lãnh đạo đảng CSVN chưa bao giờ  muốn nói chuyện  “Hòa giải”  với những ai không đồng ý với chính sách cai trị của họ, đặc biệt là người Việt Nam đối lập ở trong nước và ở nước ngoài. Hà Nội  chỉ muốn người khác  “Hoà hợp” vào với mình, chịu dưới quyền kiểm soát của đảng CSVN và  làm theo ý muốn và luật pháp của  Nhà nước  mỗi khi họ nói về  Đoàn kết dân tộc.


Những nạn nhân của chế độ, điển hình như  cố Trung tướng Trần Độ, qua đời ngày 8-9-2002 ở tuổi 78, là một điển hình cho tính kiêu căng, ù lì và tham quyền cố vị  của hàng ngũ lãnh đạo đảng CSVN. Tướng Trần Độ, từng là một công thần tiền phong của đảng đã bị khai trừ khỏi đảng và bị lên án phản bội đảng CSVN vào những ngày cuối đời chỉ vì ông khuyên đảng nên vì lợi ích của đất nước mà  từ bỏ vị trí lãnh đạo độc tôn, chính sách độc tài và phi dân chủ.


Thứ nhì, đảng CSVN  vẫn khăng khăng kiên quyết giữ vững chủ nghĩa Cộng sản và không chấp nhận “đa nguyên, đa đảng” là  hai quan điểm vừa lỗi thời vừa chậm tiến chỉ nhằm  kéo dài đói nghèo cho dân cho nước.

Hai lập trường này hoàn toàn đi ngược lại thiện chí muốn đoàn kết dân tộc của đại đa số người Việt Nam sống ở nước ngoài. Các  tổ chức chính trị, xã hội  và  tôn giáo đối lập với Hà Nội và những trí thức độc lập trong và ngoài nước đã  không ngừng  nói với cấp Lãnh đạo của  đảng CSVN  rằng, đoàn kết dân tộc là ước mơ chung của mọi người Việt Nam. Nhưng thiện chí phải đến từ hai phía.  Không bên nào được độc quyền yêu nước. Và dù có nặng lòng với đất nước bao nhiêu chăng  nữa những người Việt đã bỏ Cộng sản ra đi  cũng như những Nhà tranh đấu dân chủ và tự do trong nước không bao giờ có thể  “hoà giải” với người Cộng sản nếu đảng CSVN  chỉ muốn những người đối lập đầu hàng để  “hoà hợp” theo điều kiện của  mình.
Bằng chứng về tính kiêu căng, bảo thủ, lỗi thời và kém hiểu biết của đảng CSVN đã được chứng minh tại kỳ Đại hội Đảng lần VII năm 1991 (từ 24 đến 27-6-1991) khi  Đỗ Mười được nâng lên làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương thay thế Nguyễn Văn Linh, cha đẻ của chủ trương Đổi mới thi hành từ năm 1986.


Tại Đại hội này, tài liệu quan trọng nhất được Đại hội chấp thuận là bản  “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, trong đócó ghi lời thề cương quyết :  “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.”

Đại hội VII phải đưa ra lập trường này vào lúc bấy giờ vì đội ngũ cán bộ, đảng viên – kể cả nhiều cấp lãnh đạo – đã hoang mang đến tột cùng về sự tan rã mau chóng và bất ngờ của  toàn thể  khối Xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết và các nước  Cộng sản chư hầu ở Đông Âu.

Bản Cương lĩnh của Bộ Chính trị còn trấn an toàn đảng bằng lời khẳng định: “ Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH làm mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta.  Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.  Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; không chấp nhận "đa nguyên, đa đảng".

Bản Cương lĩnh  nhấn mạnh thêm: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.”

Nhưng số đảng viên run sợ trước làn sóng dân chủ cứ mỗi ngày một tăng nhanh vào thời gian này khiến cho   bộ máy tuyên truyền của đảng phải làm việc ngày đêm để bảo vệ  hàng ngũ.  Số  cán bộ, đảng viên bị khai trừ hay bị kỷ luật vì đã  “chệch hướng tư tưởng”  trong những năm sau khi Liên xô sụp đổ   không phải là ít.

Nguyễn Đức Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch  Hội đồng Lý luận trung ương thời bấy giờ là người chỉ huy “mặt trận” tổng phản công.

Những cụm từ như “Đổi mới nhưng không Đổi Màu” và “Hội nhập mà không Hòa tan “ xuất phát từ cơ quan của  Bìnhvà  bắt đầuđược sử dụng kể từ khi Lê Khả Phiêu thay Đỗ Mười  giữ  chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII từ  tháng 12-1997.
Ngụ ý đảng CSVN muốn nói với Thế giới rằng : Việt Nam sẵn sàng mở cửa mời gọi các nước vào đầu tư, buôn bán nhưng vẫn duy trì chế độ chính trị Xã hội dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
 
Một lực lượng chính trị mơ hồ được coi là kẻ thù của đảng CSVN gọi là “ nguy cơ "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch”  cũng đã  được thảo luận tại  Đại hội VII. Nhưng đảng CSVN chưa bao giờ giải thích hay chứng minh được Diễn biến hoà bình  là gì  và “Các thế lức thù địch” đến từ đâu, của ai hay phe nhóm nào và ở đâu đến nên không ai tin đó là một nguy cơ có thật. Ngược lại ai cũng thấy đây chỉ là cái cớ để  giúp lực lượng Công an hợp pháp hoá việc  bắt bớ, khủng bố và hù họa những nhà  tranh đấu dân chủ trong nước và các đảng viên đang hoang mang về vai trò lãnh đạo của đảng CSVN.


Chiến dịch bắt bỏ tù và vu cáo các trí thức cổ võ dân chủ bất bạo động đã hoạt động cho ngoại bang và là tay sai các lực lượng thù địch  với Việt nam ở nước ngoài được tung ra  nhắm vào  Khoa học gia Hà Sĩ Phu (Nguyễn Xuân Tụ), Tiến sĩ Địa chất học Nguyễn Thanh Giang,  Bác sỹ Nguyễn Đan Quế, Sử gia cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Nhà Văn hoá Trần Khuê, các Cụ Hoàng Minh Chính, Phan Đình Diệu,Bás sỹ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Lê Chí Quang v.v...càng chứng tỏ rõ hơn chính sách cai trị độc tài của đảng CSVN.
 
Chủ trương độc tài, độc đảng và độc quyền còn được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, dưới thời Lê Khả Phiêu, tái xác nhận trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”

Bản tin Trung ương đảng phổ biến ngày 23-12-2003 đã chỉ thị cho các cấp đảng viên phải kiên định lập trường :

- Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH làm mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta.

- Chủ nghĩa Mác - Lênin và t&##432; tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

- Đảng Cộng sản Viiệt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; không chấp nhận "đa nguyên, đa đảng".

Hành động này của Lê Khả Phiêu, dù chỉ lập lại những điều đã cam kết tại Đại hội đảng lần VII thời Đỗ Mười nhưng chứng tỏ thêm một lần nữa rằng những người lãnh đạo đảng CSVN không có mục đích nào khác hơn là bảo vệ quyền hành bằng mọi giá, dù có đi ngược lại trào lưu tiến bộ của nhân loại để làm chậm bước tiến của dân tộc. Lập trường của phe bảo thủ trong Đảng này là thà để tụt hậu còn hơn mất quyền !


Việc làm này không những đã chống lại yêu cầu của những Nhà tranh đấu dân chủ và các Lãnh  tụ tôn giáo đòi quyền  tự do Tôn giáo ở trong nước, mà còn công khai cưỡng đọat  quyết tự quyết định  về tương lai chính trị của  hàng triệu người Việt yêu chuộng Tự do.


Qua tay Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu, đảng CSVN đã công khai tuyên chiến với Dân tộc Việt Nam chứ không riêng gì những người Việt Nam ở nước ngoài.


Ấy thế mà đảng CSVN vẫn còn can đảm lớn tiếng cổ võ cho điều được gọi là “đại đoàn kết toàn dân tộc” với “người Việt Nam ở nước ngoài” như đã ghi trong Nghị quyết 36.

Nghị quyết này viết tiếp : “ Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhưng trên  thực tế đảng CSVN chưa có hành động nào như thế. Chủ trương kỳ thị, phân chia giai cấp trong và ngoài đảng không những vẫn tồn tại mà còn được củng cố thêm. Ngay đối với những Nhà tranh đấu dân chủ ôn hoà trong nước mà Đảng và Nhà nước  còn chưa đoàn kết được huống chi đối với người Việt Nam sống xa Tổ quốc.

Từ hành động này, thế giới còn thấy lời kêu gọi “đoàn kết dân tộc” của đảng CSVN  không còn ý nghĩa gì nữa , sau hai lần  đàn áp dã man những cuộc nổi dậy đòi đất, đòi quyền tự do tôn giáo và thờ phượng của đồng bào Dân tộc ở Tây Nguyên tháng 2/2002 và  tháng 4/2004.
Đảng CSVN  còn nhìn nhận  trong Nghị quyết 36 rằng :” Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước.”

Nhưng đảng CSVN chưa bao giờ thật lòng muốn như thế. Nhà nước Việt Nam chỉ nhìn vào túi tiền của người Việt sống xa Tổ quốc và  kiến thức chuyên môn của trên 300 ngàn nhà Khoa học, Chuyên viên các ngành để nói những điều ngon ngọt để có lợi cho mình.


Điều này còn được nhiều lần chứng minh bởi Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đứng đầu cuộc vận động và tập hợp người Việt Nam ở nước ngoài về hợp tác với Hà Nội.


Chính sách được gọi là “cởi mở” của CSVN đối với Việt kiều đã được Duyệt nhắc lại trong cuộc phỏng vấn của VietNamNet ngày 3-1-2005 . Duyệt nói:”Về mặt xã hội thì chính sách của ta phải thể hiện sự tôn trọng anh em, đối xử bình đẳng như người trong nước. Đã là người Việt Nam thì ở đâu cũng đều là những người cùng một quốc gia, cùng tình cảm, phải tôn trọng người ta, không phân biệt đối xử miễn là không chống đối, chống phá đất nước, chế độ, làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc. Miễn là làm sao, Việt kiều có ý thức tôn trọng mẫu số chung "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh". Khi đã đồng "mẫu số" rồi thì các "tử số" đều có thể cộng với nhau được hết. Đảng, Nhà nước hoan nghênh, Mặt trận biểu dương tập hợp.”

Ý nghĩa của “mẫu số chung” là đồng ý với chính sách của đảng CSVN. Và mọi người cùng làm việc dưới  khẩu hiệu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” là gì, nếu không phải là tấm bánh vẽ mà đảng và nhà nước CSVN đã giương ra trước mắt nhân dân trong nước từ  20 năm qua, kể từ khi thực hiện chính sách “Đổi mới” ?


Nhưng sau 20 năm sống trong điều kiện được gọi là “cởi mở” và “đoàn kết” người dân trong nước được gì và đã thấy gì nếu không phải là họ đang  phải sống trong một xã hội có  vô số tệ nạn xã hội lan nhanh từ mại dâm đến ma túy, HIV-AIDS. Họ cũng bất lực trước tình trạng đạo lý suy đồi của lớp người lớn và cuộc sống buông thả, nhiều khi vô luân  của lớp tuổi thanh niên, sinh viên và học sinh.


Ngoài ra  tính ăn gian nói dối, gian lận bằng cấp và khai khống thành tích cũng  đã  ăn sâu bám rễ trong cả học đường từ bậc Tiểu học lên đến cấp hậu Đại học. Thậm chí cả trong lĩnh vực thể thao thiếu niên, điển hình trong môn Bóng đá cũng đã có các tổ chức gian lận tuổi và tên để giùp cán bộ lãnh đạo được thưởng, lên cấp.  Bên cạnh đó còn là “quốc nạn” tham nhũng, nạn cường quyền, hành dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên đang ngày một  chống chất trong guồng máy của chế độ.

Trong cuộc họp báo cuối năm ngày 30-12-2004 tại Sài Gòn, Phan Văn  Khải, Thủ tướng đã than với các phóng viên: "Tiêu cực, nhũng nhiễu, tham nhũng, chúng ta nói rất nhiều, nhưng không làm được nhiều để ngăn chặn...Báo chí với Chính phủ phải tuyên chiến với tệ nạn này".

Báo Thanh Niên tường thuật : “Ông cho rằng nước ta tuy chưa có những đường dây tham nhũng lớn lấy tiền từ Chính phủ, từ vốn ODA (Ghi chú : Official Development Assistant: Nguồn tài chính trợ giúp phát triển từ Chính phủ nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam) để chia nhau, nhưng nạn tham nhũng đang rất nhức nhối.”

Ấy thế mà trong bài Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương đảng ngày 25-1-2005 tại Hà Nội, Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng đã không hề nói đến vấn đề nhức nhối này.  Sau 8 ngày họp Mạnh chỉ nói:” Trung ương đã khẳng định rằng mặc dù phải vượt qua rất nhiều khó khăn và thách thức, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX là 5 năm đạt được những thành tựu rất quan trọng không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà cả trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, tuy trong mỗi lĩnh vực đều còn những mặt yếu kém, khuyết điểm, có mặt nghiêm trọng.”

Mạnh không cho biết những khuyết điểm “nghiêm trọng” này nằm trong lĩnh vực nào, nhưng lại tự khoe : “Những thành tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn và sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đường lối đó được nhân dân ta tích cực ủng hộ và quyết tâm thực hiện. Thành tựu đó được thế giới hoan nghênh và thừa nhận. Điều quan trọng là, sau 20 năm lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta ngày càng tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm; nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn.”  (Báo Nhân Dân, ngày 25-1-2005)


Nếu “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam” như lời Mạnh nóithì  những sản phẩm suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên và lời tuyên bố bi quan về tình trạng tham nhũng  bất khả trị của Phan Văn Khải có đi chung một  con đường hay chúng đang xô dân xa Đảng mau hơn  ?

Và như  vậy  thì  lời kêu gọi “đoàn kết dân tộc” và “hoà hợp” của đảng CSVN có nghĩa gì  không?


Phạm Trần


Back