BA THẾ  HỆ - MỘT HÀNH TRÌNH:  CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI VÀO ĐẦU THẾ KỶ 21

Lưu Tường Quang AO

 

Tóm Lược:
Trong tiến trình hội nhập vào xã hội chủ lưu sau ba mươi năm định cư, các thế hệ người Việt dung hòa được những đặc thù qua trung gian của thế hệ 1.5 và kết hợp tâm cảm trong nỗ lực về nguồn văn hóa.


 Tuyên Truyền Thời Chiến – Hậu Quả Thời Bình.


30 năm là một khoảng thời gian tương đối ngắn trong độ lùi lịch sử để một cái nhìn hoàn toàn khách quan có thể xét lại tất cả những nguyên nhân và định giá trị cho một biến cố lịch sử. Trong trường hợp Việt Nam, khoảng thời gian nầy chưa cho phép lịch sử Việt Nam hậu bán thế kỷ thứ 20 được đánh giá đúng mức và trung thực, bởi lý do là đất nước chúng ta kể từ năm 1975 vẫn chưa thoát ra vòng kiềm tỏa của một chế độ độc tài độc đảng. Với một vài ngoại lệ, hầu hết tập thể sử gia hiện nay tại Việt Nam đều tuân thủ giáo điều và lập trường của đảng Cộng sản Việt Nam. Họ giải thích và đánh giá mọi diễn biến tại Việt Nam từ năm 1945 đến nay qua lăng kính cộng sản. Trong tiến trình ấy, họ chỉ biết tô son điểm phấn cho chế độ Cộng sản, tôn vinh đảng Cộng sản và nhất là giới lãnh đạo Cộng sản trong khi lại bôi bẩn, mạ lỵ hay cố tình bỏ quên tất cả những đóng góp của bất cứ ai không nằm trong quỹ đạo kiểm soát của Bộ Chính Trị đảng.


Bên ngoài Việt Nam, điều đáng tiếc là các sử gia và những nhà bình luận thời sự chính trị tây phương hầu hết đã viết về cuộc chiến Việt Nam từ góc cạnh quyền lợi chiến lược hoặc kinh tế của Pháp hay của Mỹ. Họ chỉ trích, đả phá, tranh luận về chính sách của Paris vào thời kỳ cuối mùa chế độ thuộc địa, hoặc của Washington trong bối cảnh chiến tranh lạnh Đông Tây, mà Việt Nam chỉ là một con cờ nhỏ bé. Trong tiến trình ấy, họ bỏ quên ước vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam trong cuộc tranh đấu dành độc lập và tự do dân chủ.  Hoặc tệ hại hơn, họ còn coi đảng Cộng sản Việt Nam và tập đoàn lãnh đạo là thế lực chủ động “yêu nước duy nhất đáp ứng lại ước vọng tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam. Họ tạo ra ấn tượng sai lầm về cuộc chiến Việt Nam là giữa hai phe: Cộng sản Bắc Việt được coi là lực lượng giải phóng và Hoa kỳ bị coi là thế lực đế quốc, trong khi Hoa kỳ trên lý thuyết cũng như về mặt thực tế, là đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa – nạn nhân của cuộc xâm lăng từ miền Bắc mà Liên Xô và toàn thể khối liên minh quân sự Warsaw cũng như Trung Quốc, Cuba và Bắc Triều Tiên yễm trợ mạnh mẽ trên 2 thập niên cho đến năm 1975.
Xác định vị trí của Mỹ trong giai đoạn trước năm 1975 là đồng minhcủa Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập có toàn vẹn chủ quyền, là trọng yếu để phản bác quan điểm của sử gia Cộng sản và một số các tác giả tây phương và để xác định đúng mức vị trí bình đẳng giữa Washington và Sàigòn.


Trong thời chiến, giới truyền thông Tây phương hầu hết chỉ tham dự và tường thuật sinh hoạt và các cuộc hành quân của quân đội Mỹ và đồng minh nước ngoài. Lý do rất dễ hiểu vì họ muốn được di tản an toàn, khi cần hoặc khi bị thương. Và lý do thứ hai là vì họ phục vụ thị hiếu của khán thính giả và độc giả tại đất nước của họ. Trong số rất ít những ngoại lệ là ký giả kiêm nhiếp ảnh viên Neil Davis của Úc Đại Lợi – là người đã dám theo chân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khắp các mặt trận. Anh đã không thiệt mạng tại chiến trường Việt Nam hay Cao Miên, mà tiếc thay anh đã tử thương trong công tác nghề nghiệp khi anh đang thu ảnh một cuộc đảo chánh tại Bangkok hồi đầu thập niên 1980. 


Sự thiếu sót của giới truyền thông tây phương trong thời chiến đã đem lại hậu quả lệch lạc vào thời bình. Trong nhiều năm qua, nhân những tiếp xúc thường ngày với mọi giai tầng xã hội tại Úc Châu cũng như trên các diễn đàn quốc tế, chúng tôi vẫn thường nhắc nhở họ rằng – trái với những hình ảnh truyền hình hay những bài tường thuật trên báo chí mà họ đã xem hoặc đã đọc, quân dân Miền Nam Việt Nam đã đứng mũi chịu sào trong cuộc chiến chống Cộng từ sau thế chiến thứ 2 đến năm 1975. Thống kê chính thức của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã ghi nhận rằng 631 000 quân nhân thuộc mọi binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận tính đến đầu năm 1973 – là thời điểm ký kết Hiệp Định Paris về Việt Nam. Mức độ thương vong thực sự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn cao hơn so với con số chính thức nầy rất nhiều, nhất là trong khoảng thời gian từ đầu năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Chính phủ Anh Quốc và Hoa Kỳ đã học được bài học Việt Nam và áp dụng kinh nghiệm nầy vào cuộc chiến tại Falkland Islands năm 1982, cuộc chiến tại bán đảo Balkans năm 1998 và gần đây, cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq. Thế nhưng, ba mươi năm sau, những tác giả và sử gia tây phương vẫn tiếp tục đi con đường mòn lệch lạc đối với cuộc chiến Việt Nam.


Những Bước Chân Khai Phá của Thế Hệ Thứ Nhất.


Nhìn lại quãng đường từ năm 1975, sự hình thành của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài phần lớn là nhờ có sự hợp tác và lãnh đạo của người Việt thuộc thế hệ thứ nhất mà phần lớn gờm tập thể cựu quân nhân/viên chức VNCH. Không kể những thanh niên sinh vào cuối thập niên 1950, hầu hết những ai là nam giới ở lớp tuổi 20 trở lên vào thời điểm năm 1975 – đều thuộc gốc nhà binh vì hoàn cảnh chiến tranh của đất nước và vì lịnh tổng động viên mà chính phủ đã ban hành sau Tết Mậu Thân 1968, bất kể là họ có nghề nghiệp chuyên môn hoặc sinh  hoạt trong những lãnh vực nào khác của đời sống dân sự.
Tại Úc Châu cũng như tại Bắc Mỹ, sự hình thành của cộng đồng Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn – và bất cứ ở giai đoạn nào cũng có sự đóng góp thiết yếu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của thế hệ thứ nhất người tị nạn.


Trong những ngày đầu sau năm 1975, các tổ chức cộng đồng người Việt tiểu bang đã được thành lập, dẫn đến một cấu trúc Liên bang vào cuối năm 1977 dưới hình thức Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu, để đáp ứng nhu cầu vận động chính giới và công luận lúc bấy giờ cho việc nhập cư và định cư của người tị nạn Việt Nam. Hầu hết những người làm công tác thiện nguyện trong giai đoạn sơ khởi nầy đều là cựu quân nhân/viên chức Việt Nam. Diễn tiến kế tiếp là những tổ chức cựu quân nhân được thành lập riêng biệt cho từng binh chủng như Hải Quân và Không Quân hoặc cho từng quân trường như trường Bộ Binh Thủ Đức hoặc trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với một tổ chức chung cấp toàn quốc là Tổng Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại Úc châu.


Từ cuối thập niên 1970 - đầu thập niên 1980, chúng ta nhìn thấy những tổ chức đấu tranh được thành lập với các chủ trương và đường lối hoạt động thích hợp với hoàn cảnh và cảm tính của tập thể người Việt tị nạn lúc bấy giờ. Cũng vào thời điểm nầy, Giáo Hội Phật Giáo, Cộng Đoàn Công Giáo và Hội Thánh Tin Lành, các Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài được thành hình để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của cộng đồng Việt nam.


Ngày nay, những tổ chức Người Việt Tự Do, các đoàn thể cựu quân nhân và các liên minh đấu tranh đã thay đổi và cải tiến phương thức sinh hoạt rất nhiều, để đáp ứng với những biến chuyển quan trọng trên thế giới và tại Việt Nam kể từ đầu thập niên 1990, đồng thời thích nghi với môi trường sinh hoạt hợp pháp cá biệt của từng quốc gia định cư - thí dụ như tại Mỹ với luật Neutrality Act, và tại Úc với luật Crimes (Foreign Incursions and Recruitment) Act 1978.


Diễn tiến sau cùng trong mấy năm gần đây là sự xuất hiện của những hội ái hữu cựu học sinh của nhiều trường nổi tiếng ở Việt Nam trước năm 1975 – như các trường Pétrus Ký - Gia Long, Chu Văn An - Trưng Vương, Quốc Học -Đồng Khánh, Nguyễn Đình Chiểu – Lê Ngọc Hân, Phan Thanh Giản – Đoàn Thị Điểm vân vân…và nhiều kết hợp chuyên môn như Hội Y-Nha-Dược Sĩ Việt Nam Hải Ngoại, Hội Chuyên Gia Việt Nam.


Sự xuất hiện có thể nói là khá rầm rộ của những hợi ái hữu cựu học sinh và đoàn thể chức nghiệp có thể đánh dấu một giai  đoạn mới trong tiến trình định cư của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài. Vào cuối thập niên 1970, người ta nhỏ lệ khi nghe tiếng hát của Nguyệt Ánh – Việt Dũng trong niềm thương nhớ Saigon, Việt Nam. Trong thập niên 1980, người ta vui mừng đón tiếp hàng chục, hàng trăm ngàn người Việt tị nạn định cư tại những quốc gia dân chủ tây phương.  Trong thập niên 1990, người ta cảm thấy phấn khởi và tràn trề hy vọng trước sự sụp đổ của Liên Xô và toàn thể khối Cộng Sản Đông Âu. Vào cuối thập niên 1990, người ta trở về nguồn một cách cá biệt với mái trường cũ, con đường xưa đầy dẫy những ký ức học trò. Trong khi tất cả những cảm tính, hoài bão và lập trường tự do dân chủ đã và đang được nuôi dưỡng từ sau năm 1975 vẫn sinh động song hành ở các mức độ khác nhau, thì diễn tiến mới nhất có thể là dấu hiệu chứng tỏ cộng đồng Việt Nam ngày nay, tuy cảm thấy hài lòng với chính mình, tuy đã hoàn tất giai đoạn định cư khó khăn về mặt an sinh xã hội, tuy đã tạo dựng được cơ sở kinh tế tài chánh và đang đóng góp vào lãnh vực sáng tạo cho xã hội chủ lưu, nhưng vẫn còn một khoảng trống tình cảm cần được khỏa lấp.


Sau chính biến 1917 tại Nga – mà người Cộng Sản gọi là cuộc Cách Mạng Vô Sản Bolshevik – tập thể cựu quân nhân-viên chức Bạch Nga đã di tản sang Tây Âu mà phần lớn định cư tại Paris. Từ thủ đô ánh sáng của nước Pháp tự do dân chủ, họ mơ đến một ngày trở về nước Nga mà lá cờ đỏ búa liềm không còn bay trên điện Cẩm Linh nữa. Hầu hết đã biến mất đi – nói theo lời của Đại Tướng Douglas MacArthur là “người lính già không bao giờ chết” – vì họ đã phải chờ đợi quá lâu. Thế nhưng thế hệ con cái của họ đã nhìn thấy diễn biến mà họ đã mơ tưởng khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1990.


Ba Thế Hệ – Một Hành Trình.


Tập thể cựu quân nhân/viên chức VNCH chưa hẳn là người lính già và thế hệ thứ nhất chưa biến mất vào đầu thế kỷ thứ 21. Thế nhưng, chiều hướng đang phát hiện mỗi ngày một rõ nét là thế hệ trẻ sinh đẻ hoặc trưởng thành ở nước ngoài  - tức là thế hệ một rưởi và thế hệ thứ hai với nền học vấn tân tiến và khả năng lập luận suy nghĩ trên những dữ kiện khách quan -  đang tìm hiểu thực chất của cuộc chiến Việt Nam và theo đuổi hoài bão tự do dân chủ cho dân tộc.
Chúng tôi nhận thấy rằng những nam nữ trẻ tuổi đã định cư ở nước ngoài cùng với gia đình trong tuổi niên thiếu, thường có những đặc tính khác biệt với những người lớn trong gia đình thuộc thế hệ thứ nhất cũng như những đứa em nhỏ tuổi hơn thuộc thế hệ thứ hai.


Những người thuộc Thế Hệ Một Rưỡi trong cộng đồng Việt Nam đã đóng một vai trò độc đáo của thế hệchuyển tiếp, tức là làm nhịp cầu nối liền thế hệ thứ nhất với thế hệ thứ hai trong cộng đồng người Việt tị nạn. Thế hệ nầy đã được đề cập đến ở Mỹ hồi giữa thập niên 1970(1).


Tiến trình định cư của tập thể người Việt thuộc thế hệ thứ nhất đã là chủ đề của nhiều cuộc khảo cứu. Tại Úc, điều nầy được thực hiện trên căn bản địa phương hoặc toàn quốc, dựa vào các dữ kiện Thống Kê Dân Số được tổ chức 5 năm một lần. Các cuộc nghiên cứu về thế hệ thứ hai trong cộng đồng Việt Nam hãy còn hạn hẹp, vì cộng đồng Việt Nam đã không hiện diện với một nhân số đáng kể trước năm 1975 (2). Thế hệ chuyển tiếp 1.5 lại càng ít được biết đến hơn nữa, vì về mặt thống kê, thế hệ nầy được tính chung với thế hệ thứ nhất (với lý do sinh đẻ ở ngoài quốc gia định cư), trong khi xét về mặt kinh nghiệm sống thì họ lại gần gũi với thế hệ thứ hai, dù họ có mối dây ràng buộc tình cảm chặt chẽ hơn với thế hệ thứ nhất.


Trong thực tế, không có sự khác biệt nhiều giữa trẻ em sinh đẻ ở nước ngoài, nhập cư vào Úc lúc được 5 tuổi (nghĩa là trước tuổi đi học) với các em sinh đẻ tại Úc (thuộc thế hệ thứ hai).  Chúng tôi có nhận xét như trên sau khi đã quan sát con cái trong gia đình. Đứa con gái sinh tại Sàigòn và đến Úc lúc 5 tuổi, không có gì khác biệt rõ rệt với đứa con gái sinh tại Canberra khi chúng cùng lớn lên trong môi trường mới, trong khi các chị em họ của chúng lại có những kinh nghiệm khác hơn vì các chị em họ nầy nhập cư ở lứa tuổi thanh thiếu niên (tuổi trung học).


Thế hệ 1.5, ít nhất là tại Úc, hình như chưa được chính thức nhận diện về mặt nhân số và tiến trình định cư của họ cũng chưa được phân tích. Trên căn bản thực nghiệm – và tất nhiên là yếu tố chủ quan không thể nào tránh được – có nhiều mẩu chuyện và thí dụ đủ để chúng ta có thể rút tỉa một vài kết luận.


* Luật sư Nguyễn Văn Thân là học sinh lớp 9 trường Trung Học Cabramatta NSW, khi anh bắt đầu cuộc đời mới tại Sydney. Sau khi tốt nghiệp Cử nhân Luật/Văn Khoa và bằng Cao Học Luật, anh lại tiếp tục trau dồi thêm kiến thức để lấy bằng Cao Học Quản Trị Kinh Doanh. Mặc dù bận rộn tại văn phòng luật sư nhưng anh cũng dành thời giờ làm việc thiện nguyện với tư cách là Phó Chủ Tịch rồi Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại tiểu bang NSW.
* Cô Trần Hương Thủy đặt chân xuống phi trường Sydney cùng với gia đình tị nạn lúc cô hãy còn là cô bé thơ ngây ở tuổi 15. Ngày nay, cô có một văn phòng kế toán đông khách và cô đã chia sẻ thời giờ để vừa tiến thân về mặt chức nghiệp vừa phục vụ cộng đồng với tư cách là Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Wollongong, NSW.
* Bác sĩ Trần Bình Đông đã theo học trung học cùng với đám bạn trẻ thuộc nhiều sắc tộc khác nhau tại Adelaide và bây giờ là một bác sĩ chuyên khoa tâm thần gốc Việt có tiếng ở Úc.
* Trong hoàn cảnh tị nạn tương tự tại Nam Úc, Tiến sĩ Trần Duy Cường đã vượt qua những thử thách của khảo cứu khoa học để đem lại phúc lợi y tế cho mọi người Úc và cho xã hội nói chung. Anh được cấp học bỗng Australian-American Fellowship để tiếp tục cuộc khảo cứu quan trọng nầy tại Hoa Kỳ.
* Hệ thống bán lẻ trên mạng wishlist.com.au là một tấm gương thành công trên thương trường của anh em nhà họ Trương tại Melbourne.


Tất cả những người nói trên đều đã đến Úc ở lứa tuổi thiếu niên và ngày nay ở lứa tuổi trên dưới 30, vai trò của họ mỗi ngày càng thêm nổi bật.


Danh sách nói trên có thể tiếp tục tại nhiều quốc gia định cư ở Bắc Mỹ và  Tây Âu.  Tại Úc, nhiều thanh niên thiếu nữ đã từ Việt Nam đến trong độ tuổi thanh niên, đang tạo dựng những sắc thái cá biệt cho sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của xã hội  - chẳng hạn như tại Melbourne với Tony Lê Nguyễn và Chi Vũ trong lãnh vực điện ảnh và kịch nghệ, trong khi tại Sydney với Đỗ Khoa trong lãnh vực điện ảnh, và La Thảo Nhi, Mỹ Lệ Thi trong lãnh vực hội họa vân vân...
Vào cuối năm 2004, Đỗ Khoa còn được chọn làm The Young Australian of the Year 2005, trong khi Nguyễn Ngọc Hương Thảo, 23 tuổi, được chọn làm Đại Diện Giới Trẻ Úc Châu tại Liên Hiệp Quốc ở New York. Cô Hương Thảo là một trong tám đại sứ trẻ trên toàn thế giới có cơ hội trình bày nguyện vọng của giới trẻ Úc châu – kể cả giới trẻ Việt Nam – trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Tất nhiên là không phải ai thuộc giới trẻ nầy cũng đều thành công trong việc đáp ứng lại hoài bão của gia đình và kỳ vọng của xã hội định cư.


Thế Hệ 1.5 và Thế Hệ Thứ Hai.


Tuy kinh nghiệm định cư của người Việt tại Úc và tại các quốc gia khác không thể nói là độc nhất vô nhị, thế nhưng tiến trình định cư nầy cũng không giống như tiến trình mà các cộng đồng di dân khác đã trải qua -  chẳng hạn như cộng đồng Hi Lạp hoặc Ý Đại Lợi. Trong một cách thế nào đó, cộng đồng Việt Nam có thể nói là gần gũi với cộng đồng Cuba tại Mỹ hơn là cộng đồng Trung Hoa tại Úc, bởi vì cộng đồng Việt Nam và Cuba có những nét tương đồng với nhau về một cộng đồng tị nạn cộng sản với một khát vọng là đất nước cội nguồn được canh tân cải tiến. Đây là một yếu tố quan trọng trong mối dây liên hệ giữa thế hệ thứ nhất, thế hệ 1.5 và thế hệ thứ hai trong tập thể người Việt.


Thí dụ điển hình nhất cho mối liên hệ nầy là sự hiện diện đông đảo của thành phần trẻ thuộc thế hệ 1.5 và thế hệ thứ hai trong các cuộc biểu tình vào cuối năm 2003 tại Sydney và Melbourne, khi cộng đồng Người Việt phản đối Đài Truyền Hình SBS của Liên Bang Úc trình chiếu chương trình Thời Sự VTV 4 của Hà Nội. Trước áp lực đông đảo đáng ngạc nhiên của hàng chục ngàn người Úc gốc Việt thuộc đủ mọi thành phần nam nữ và tuổi tác, Ban Quản Trị SBS đã ra lịnh SBS TV đình chỉ tức khắc chương trình Thời Sự hàng ngày nầy.


Thế hệ 1.5 đã trải qua phần nào những năm tháng tạo dựng nhân cách ở Việt Nam. Bởi vậy, họ am hiểu, cảm nhận, suy nghĩ về kinh nghiệm đau thương của thế hệ đi trước. Hầu hết những người Việt Nam trưởng thành trong nước đều đã bị các cuộc chiến từ năm 1945 đến năm 1975 chi phối bằng cách nầy hay cách khác. Ít ai có thể tránh được những hậu quả tiêu cực mà nhiều người lại còn trực tiếp tham gia vào những biến động lịch sử nầy, hoặc bị ảnh hưởng gián tiếp khi có thân nhân phục vụ ở bên nầy lẫn bên kia chiến tuyến. Hầu hết đều đã trải qua giai đoạn khủng hoảng tâm thần trong giai đoạn sau năm 1975, vì bị đối xử tàn bạo và đời sống ngục tù trong các trại cải tạo dưới chế độ cộng sản. Sau khi đến các nước định cư với một cuộc đời tang thương, họ còn bị những ám ảnh mà các cuộc vượt biển vượt biên kinh hoàng vẫn còn để lại dấu tích. Đó là kinh nghiệm sống mà thế hệ 1.5 có thể còn nhớ và có thể cảm nhận được trong khi thế hệ thứ hai không có sự hiểu biết trực tiếp nào về những kinh nghiệm sống nầy.


Tương tự như những đợt di dân và tị nạn khác từ Âu Châu sau Thế chiến thứ 2 (được gọi là displaced people), người Việt đã trải qua giai đoạn đầu  của tiến trình định cư với nhiều khó khăn về mặt kinh tế và xã hội. Phần lớn đã không có trình độ Anh ngữ cao và năng khiếu chuyên môn được công nhận, họ đã bắt đầu cuộc đời làm việc ở những hãng xưởng với mức lương thấp nhất (3). Về mặt xã hội, họ sống trong cảnh cô lập, vì sự thăng tiến của họ trong xã hội thường xảy ra chậm chạp và tùy thuộc vào những cải thiện kinh tế. Thế hệ 1.5 đã chia sẻ hoàn cảnh nầy với tư cách vừa là chứng nhân vừa là người thụ hưởng, bởi thế hệ 1.5 là nguyên do chính và cũng là niềm hy vọng thúc đẩy thế hệ thứ nhất bắt đầu dựng lại cuộc đời mới. Những ai thuộc thế hệ 1.5 nầy đã từng phải vừa làm việc vừa đi học bậc trung học và đại học để giảm gánh nặng cho gia đình đều chia sẻ đức tính cần lao nhẫn nại của cha anh họ. Trong khi đó, thế hệ thứ hai nói chung chào đời sau khi giai đoạn định cư khó khăn của buổi đầu đã được cải thiện hay đã được vượt qua.


Nhìn từ góc cạnh văn hóa,  thế hệ 1.5 gần gũi với thế hệ thứ nhất, vì họ có khả năng song ngữ và chia sẻ được kinh nghiệm sống với thế hệ thứ nhất. Trong độ tuổi thiếu niên, thế hệ 1.5 không mất khả năng nói tiếng mẹ đẻ mà họ lại còn đủ thời giờ để hấp thụ năng khiếu ngôn ngữ mới một cách tương đối không khó khăn lắm. Khả năng hấp thụ ngôn ngữ mới là trở ngại mà thế hệ cha anh của họ khó có thể vượt qua được. Bởi thế, thế hệ 1.5 thường đóng vai trò nhịp cầu thực tiễncho thế hệ thứ nhất và thế giới bên ngoài gia đình, nhờ vào khả năng song ngữ của họ. Trong khi đó, với nhiều nỗ lực, thế hệ thứ hai có thể trở thành người có khả năng song ngữ nhưng thế hệ thứ nhất, nếu không nói được tiếng Anh khi nhập cư, thì họ khó thể thông thạo được hai thứ tiếng trong tiến trình định cư của mình.


Ngược lại, thế hệ 1.5 cũng gần gũi với thế hệ thứ hai hơn là thế hệ thứ nhất có thể làm được. Trong đời sống con người, bao giờ cũng có sự cách biệt giữa thế hệ thứ nhất và thế hệ thứ hai, bất kể họ thuộc nguồn gốc văn hóa và ngôn ngữ nào, tương tự như liên hệ giữa thế hệ lớn tuổi và thế hệ trẻ tuổi trong cộng đồng chính mạch. Tuy nhiên, đối với một cộng đồng mà phần lớn đều là người tị nạn như cộng đồng Việt Nam, sự cách biệt về thế hệ nầy còn rõ nét hơn, vì người Việt thuộc thế hệ thứ nhất chẳng những muốn duy trì truyền thống và di sản văn hóa không thôi mà còn muốn chuyển đạt những giá trị nầy cho giới trẻ nữa. Sống trong môi trường văn hóa khác biệt, giới trẻ có thể coi những truyền thống và di sản này không còn thích hợp. Những căng thẳng giữa các thế hệ bao giờ cũng có và chúng đã được phản ánh qua phim ảnh và kịch nghệ. Tuy nhiên, sự căng thẳng về thế hệ nầy có thể được tiết giảm nhờ vào thế hệ 1.5, vì thế hệ chuyển tiếp nầy có thể hấp thụ hai nền văn hóa. Người ta thường nói rằng di dân hưởng được phần tối hảo của hai thế giới, thế nhưng trong thực tế, di dân có thể cảm thấy bơ vơ. Họ có thể không hoàn toàn cảm nhận xã hội đang định cư là quê hương của họ, nhưng ngược lại, khi họ trở về đất nước cội nguồn thì họ cảm thấy mình là người xa lạ. Thế hệ thứ nhất là thế hệ “mất” một quê hương nhưng lại chưa hẳn đã tìm được một quê hương mới.


Thế hệ thứ hai sinh đẻ ở nước ngoài, lớn lên và chỉ biết môi trường địa phương, hoặc ít nhất là họ không có những gắn bó tha thiết với đất nước cội nguồn của cha mẹ đến mức độ mà họ cảm thấy gắn bó với đất nước thổ sinh của họ. Đứa con gái sinh đẻ tại Canberra của chúng tôi chưa hề biết Việt Nam, cho đến khi nó đặt chân đến phi cảng Sàigòn và lập tức nó cảm nhận ngay nó là người Việt, thoải mái với các sinh hoạt, với những tiếng nói,  tiếng cười ròn rã chung quanh. Rõ ràng là nó yêu thương đất nước Việt Nam đến mức độ mà nó không ngờ được. Thế nhưng sau mấy tuần lễ xuyên Việt từ Nam ra Bắc, nó bỗng thấy ao ước trở lại quê nhà Úc Đại Lợi. Thế hệ thứ hai không hề mất một quê hương và cũng không tìm được một quê hương mới, vì quê hương duy nhất của họ là nơi họ sinh trưởng.


Chỉ có thế hệ 1.5 mới có thể mất một quê hương và tìm được một quê hương mới. Vị thế chuyển tiếp của họ rất hữu ích, không những là một nhip cầu văn hóa xã hội giữa thế hệ thứ nhất với thế hệ thứ hai, mà nó còn quan trọng trong việc thể hiện bản sắc và chân dung của cộng đồng Việt-Úc hay Việt-Mỹ, thay vì chỉ là Việt nam hoặc Úc Đại Lợi  hoặc Hoa Kỳ. (4 )

Về Nguồn  - Một Hành Trình Văn Hóa
    
Ngược xuôi trên dòng đời, đôi lúc nhớ về cội nguồn đã xa, tâm cảm của kẻ lưu đày như thiền sư Tuệ Sỹ thoáng chốc bâng khuâng, ngậm ngùi như nhà thơ đã ghi lại trong thi phẩm Giấc Mơ Trường Sơn:  Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn / Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về.  


Quán trọ là nơi tạm dung của người xa xứ. Hầu hết chúng ta là những người đang sống lưu vong và các quốc gia định cư, trong ý nghĩa nào đó, cũng mang tính chất của một quán trọ bên đường. Tâm cảm nầy không phải duy nhất cho người Việt nam mà hầu hết di dân, nhất là người tị nạn khắp nơi trên thế giới đều chia sẻ trạng thái tâm lý nầy. Enrico Marcias, ca sĩ Pháp gốc Italy, đã mô tả tâm trạng nầy thật tuyệt vời qua bài hát Adieu Mon Pays (Giã Từ Đất Mẹ):J’ai quitté mon pays/ J’ai quitté ma maison / Ma vie, ma triste vie / Se traine sans raison...


Thế nhưng tại sao quán trọ lại ngăn nẻo về? Và bao giờ thì quán trọ hay nhà có thể trở thành tổ ấm, Home, Sweet Home?


Sau 30 năm định cư, phần đông người Việt đã ổn định đời sống vật chất với nhà cao cửa rộng, nhưng tổ ấm theo nghĩa văn hóa tình cảm Home, Sweet Home mà thi sĩ Mỹ John Howard Payne (1791- 1852) đã diễn tả và trở nên rất phổ cập trong thời kỳ Chiến Tranh Nam Bắc Hoa Kỳ, thì mức độ thành công của chúng ta như thế nào?    

  
Tại các quốc gia di dân như Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi và New Zealand, nhận định qui ước là di dân hưởng được tinh túy của hai nền văn hóa - của đất nước cội nguồn mà họ mang theo và của quốc gia định cư mà họ tiếp cận. Qui luật nào cũng có những ngoại lệ, nhưng nhìn chung, chúng tôi không nghĩ rằng nhận định nầy phản ánh đúng với thực tế của phần đông gia đình di dân và người tị nạn, cá biệt là gia đình người Việt.
 
Qua kinh nghiệm phục vụ tại Bộ Di Trú và Văn Hóa Đa Nguyên liên bang trước kia và Hệ Thống Phát Thanh quốc gia SBS Radio hiện nay, chúng tơi nghĩ rằng Về Nguồn theo nghĩa duy trì truyền thống văn hóa là một khuynh hướng tự nhiên của tập thể người sinh đẻ ở nước ngoài. Về nguồn không nhất thiết chỉ đơn thuần là những chuyến đi thăm viếng du lịch quê xưa mà là hành-trình-tình-cảm-tri-thức-tái-kết với nền văn hóa cũ. Với thế hệ thứ nhất, người Việt sống trong hoài niệm và nỗ lực tái tạo hình ảnh văn hóa cũ trong môi trường mới. Nơi nào có người Việt là nơi đó có Hội Chợ Tết; nơi nào có Phật tử là nơi đó có Chùa Việt nam và Lễ Vu Lan Báo Hiếu. Trên bình diện cá nhân, người Việt nào càng có nhiều phương tiện vật chất là tư gia của họ càng có nhiều sắc thái Việt Nam về mặt biểu tượng bên ngoài cho đến những trang trí bên trong như bàn thờ ông bà, gia tiên, những bức họa sơn dầu, bức tranh sơn mài trên tường và bàn ghế phòng khách.


Tiến sĩ Mandy Thomas, một nhà nhân chủng học Úc, đã nghiên cứu nhiều năm về cộng đồng Việt nam. Tôi cần nói là không phải lúc nào tôi cũng đồng ý với kết luận của tác giả, nhưng tôi chia sẻ nhận định sau đây:


“Người Việt nam [tại Úc] liên tục đối diện với vấn đề biểu dương cộng đồng với nền văn hóa đa số chính mạch (the majority culture) và làm thế nào kết hợp với kẻ khác trong ‘cộng đồng lý tưởng mơ ước’ của họ (‘their imagined community’). Qua hội chợ Tết và những lễ hội nghi thức khác, các tổ chức cộng đồng hành xử như là người thương thuyết chính giữa cộng đồng và cơ cấu chính quyền địa phương. Những tổ chức cộng đồng nầy hướng dẫn sinh hoạt văn hóa và chính trị của cộng đồng và do đó có tác động sâu rộng trong việc hình thành liên tục của bản sắc Việt nam (Vietnamese identities) (5).


Đó là về mặt tập thể. Còn về mặt cá nhân, qua nhiều cuộc tiếp xúc với người Việt định cư tại vùng Tây Sydney, Mandy Thomas nhận xét rằng đời sống quá khứ tại Việt Nam của họ phản ánh sự chọn lựa nhà cửa tại Úc và nhà như là một ý niệm cũng như là vật thể trong đời sống gia đình và môi trường địa phương, là mối quan tâm chủ yếu của người Việt.


“Đối với người Úc gốc Việt, nhà là một ý niệm gắn liền với quê nhà (homeland), ngôn ngữ và xã hội – tất cả đều phản ánh khúc xạ qua kinh nghiệm mất mát [trong quá khứ]....Đời sống được chuyển đổi từ Việt Nam và sự mất mát khung trời văn hóa Việt đã khiến người Việt tái lập đời sống văn hóa Việt trong không gian Úc châu - (5)


Chúng tôi chưa tìm thấy một khảo sát nào về mức độ hài lòng của người Việt trên căn bản tổ ấm-sweet home, sau khi đã tạo dựng được nhà cửa tại Úc hay tại Bắc Mỹ. Ngoại trừ thành phần ông bà định cư theo diện đoàn tụ gia đình (6) và thành phần cha mẹ đoàn tụ với con cái sau khi con cái đã ổn định đời sống kinh tế, theo nhận xét của chúng tôi, đa số người Việt định cư với tư cách tị nạn và lập nghiệp trở lại với hai bàn tay trắng, đều có cảm tưởng là họ đã tạo dựng được phần nào tổ ấm tại quê hương thứ hai.


Chúng tôi nói "phần nào" là vì chúng ta không bao giờ có thể tái tạo  hoàn toàn đời sống văn hóa mà chúng ta đã mất hoặc đời sống văn hóa đương đại mà chúng ta không còn là thành phần tham dự. Vả lại, tổ ấm còn đòi hỏi một mức độ hội nhập nào đó vào môi trường chính mạch mà nhiều người thuộc thế hệ thứ nhất có thể còn gặp trở ngại tại các quốc gia định cư.


Sau những năm đầu định cư, người Việt được coi là thành công trong một cuộc thăm dò của Phân Khoa Xã Hội Học thuộc Viện Đại Học NSW ở Sydney, trên căn bản một định nghĩa tương đối về thành công như là sự hài lòng với chính mình. Theo định nghĩa nầy, thành phần ông bà cha mẹ đoàn tụ gia đình sau khi con cháu đã ổn định đời sống tị nạn về mặt kinh tế tài chánh, thường gặp nhiều khó khăn và không cảm thấy thoải mái với đời sống mới, vì tương quan chủ lực trong gia đình đã thay đổi và thứ bậc tình cảm theo truyền thống không còn được chấp nhận hoàn toàn như tại Việt Nam trước kia.
 
Cũng thay đổi là vai trò của phụ nữ trong xã hội mới mà chúng tôi gọi là “giữa hai dòng văn hóa” và Mandy Thomas coi là trong tình trạng “in limbo” (5). Truyền thống văn hóa mà người Việt nỗ lực tái tạo cho tổ ấm-sweet home phải là truyền thống tốt, thích hợp với nguyên tắc nam nữ bình quyền và bình đẳng cơ hội (7). Vào mốc điểm 15 năm định cư 1990, chúng tôi đã có nhận xét rằng “phụ nữ Việt nam ở nước ngoài có nhiều khả năng linh động và hội nhập thành công trong môi trường [bình đẳng] xã hội mới mà không bị vong bản"(7).


Đến năm 2035, tức là sau 60 năm định cư, thế hệ thứ ba và thứ tư của chúng ta có còn khả năng nói tiếng Việt và hiểu văn hóa Việt hay không?  Trong mỗi gia đình, chúng ta đều có những trăn trở như nhau về việc nầy. nhưng không phải ai cũng thành công trong nỗ lực tìm một công thức dung hòa nhu cầu hội nhập dòng chính với nhu cầu duy trì ngôn ngữ và văn hóa Việt nam. Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang đã đề tặng tác phẩm mới nhất của mình cho các con sinh đẻ tại Mỹ là “thế hệ bảo tồn Tiếng Việt Huyền Diệu nơi xứ người” (́8). Thế hệ thứ hai tự họ cũng trải qua những trăn trở như vậy nên chủ đề của trại hè sinh viên Việt nam ở Adelaide, South Australia, đầu năm 2005 là “Ta Là Ai? Who Are We?”    

 
Nhiều công trình khảo cứu đã và đang đi tìm câu trả lời. Vicky Karaminas viết: “ Nhà (home) là nơi chúng ta nhớ khi chúng ta đi xa và là nơi chúng ta trở lại sau cuộc hành trình. Nhưng đối với nhiều người, cuộc hành trình, tình trạng ngược xuôi không bao giờ chấm dứt. Nhà được liên tục tìm kiếm qua những lúc đến và lúc đi, lúc ra và lúc vào những địa điểm khác nhauHome is what we yearn for when we are away, and what we return to after a journey. But for many, the journey, the displacement never ends: the search for home is a contant flux of arrivals and departures, exits and entries from various locations” (9).


Tài liệu vừa được trích dẫn là một nghiên cứu về giới trẻ cư ngụ ở vùng Tây Sydney thuộc nguồn gốc Trung Đông và Châu Á, kể cả Việt nam. Trong một cuộc nghiên cứu khác, do SBS Corporation bảo trợ, giới trẻ gốc Việt đã có phản ứng rất tích cực và rõ rệt về bảo tồn văn hóa (80% +), về thưởng thức nhạc Việt Nam (80% +), về am hiểu nguồn gốc văn hóa gia đình (80% +) và coi Úc Đại Lợi là ‘nhà – home’ (60% +) (10).


Nói tóm lại, trong 30 năm qua, cộng đồng Việt nam ở nước ngoài đã vượt qua rất nhiều trở ngại vật chất và tinh thần để gặt hái được thành công trong hầu hết mọi lãnh vực sinh hoạt – và thử thách văn hóa lớn lao trước mặt là nỗ lực về nguồn của thế hệ trẻ kế tiếp. Chúng ta có thể lạc quan vì con cháu chúng ta đang quan tâm tìm câu trả lời “home away from home, but is it still sweet home?  Điểm đáng ghi nhận khác là giới lãnh đạo cộng đồng Việt Nam hải ngoại ngày nay –  ít nhất là tại Úc Châu – phần đông thuộc thành phần trẻ, tốt nghiệp đại học tại những quốc gia định cư.

Ghi Chú:
(1)  Ruben G. Rumbaut, “The One-And-A-Half Generation: Crisis, Commitment and Identity” (May 1976). [Paper presented at the annual meeting of The American Society for Adolescent Psychiatry, Miami Beach, Florida, USA].
(2) DIMIA, “Second Generation Australians” – Report for The Department of Immigration and Multicultural and Indigenous Affairs, by Siew Ean-Khoo, Peter McDonald and Dimi Giorgas, Australian Centre for Population Research, ANU, Canberra, and Bob Birrell, Centre for Population and Urban Research, Monash University, Melbourne, Australia, April 2002.
(3) DIMA (Department of Immigration and Multicultural Affairs) – Community Profiles (1996 Census): Vietnam Born, Canberra,  Australia, 2000.
(4) Casula Power House Arts Centre, In-Between 1.5 Generation Viet-Aust, Sydney Australia ,2002 – Lost and Found – A New Homeland: The Role and Characteristics of the 1.5 Generation by Luu Tuong Quang / Chiề̀u Chiều Ra Đứng Ngõ sau: Vai trò và Đặc Tính của Thế Hệ Mợt Rưởi, Ngọc Hân chuyển ngữ.
(5) Mandy Thomas, Dreams in the Shadows – Vietnamese-Australian Lives in transition, Allen & Unwin, Sydney, Australia, 1999. (trang 122, 62, 154)
(6)   Thomas T. Professor and M. Balnaves, New Land, Last Home: The Vietnamese Elderly and the Family Migration Program, Bureau of Immigration Research, Canberra, Australia,1993.
(7)  Ngọc Hân (ed.) Đặc San song ngữ Xuân Canh Ngọ, Sydney, Australia, 1990, No.2 (Hội Phụ Nữ Việt nam NSW): Phụ Nữ Việt Nam Giữa Hai Dòng Văn Hóa – Vietnamese Women Between Two Cultures by Lưu Tường Quang. (trang 4)
(8) Nguyễn Xuân Quang, Tiếng Việt Huyền Diệu, Hừng Việt, Anaheim Ca., USA, 2004.
(9) Migration Heritage Centre and Centre for Cultural Research, Generate: Mapping Youth Culture and Migration Heritage in Western Sydney, Sydney, Australia, 2000. (trang 17)
(10) Ang, Ien Professor & others, Living Diversity – Australia’s Multicultural Future, Sydney, Australia, 2002.


Back