SƠ
LƯỢC HỒ SƠ KHÁNG ÁN VỤ KIỆN WJC
Dương Thành Lợi
Author’s note of caution: Prior to
formulating this commentary, I was not involved in the so-called WJC litigation
(vụ kiện WJC) in any forms and thus took no position on either
side, not because of lacking any particular interest but due to observing the
irrational political hypes that apparently undermined the dynamic realities of
trial process. On August 30, 2005, I was requested to review the WJC appeal’s
legal briefs of both appellants and respondents; out of respect for Mr.
Nguyễn Hữu Luyện, a well-regarded POW, I accepted the task
with some personal reservations due to previously scheduled commitments. With
due diligence and sincere dedication, I approached the issues critically with
the hope of discovering some genuine light at the end of the prolonged tunnel.
In spite of being a practicing lawyer aware of subjective influences, however,
the view presented herein is definitely skewed by preferential précis and, more
importantly, is categorically personal in nature because my
* * *
Vừa
từ Mễ Tây Cơ về
Brief
of Appellants (Kháng Pháp Luận)
Vào
ngày 27-8-2004, vụ án WJC đă bị Ṭa Superior Court của
Tiểu Bang Massachusetts bác bỏ theo đề nghị
của khối bị cáo bao gồm William Joiner Center for the
Study of War and Social Consequences và Đại Học Massachusetts
Boston (Defendant’s Motion to Stay Discovery and Motion to Dismiss the
Second Amended Complaint). Khối nguyên đơn bao gồm
Nguyễn Hữu Luyện, Bùi Diễm, Dinh Tu Nguyen, Lê P. Sang,
Nguyễn Tường Bá, Trần Minh Xuân, Phan Nhật Nam,
Nguyễn Thanh Liêm, và Nguyễn Văn Chức kháng cáo
quyết định này lên Ṭa Kháng Án (Appeals Court) của TB
Massachusetts.
Kháng
Pháp Luận (Brief of Appellants) của khối nguyên đơn
đưa ra 4 câu hỏi yêu cầu Ṭa Kháng Án (
(a) Ṭa Superior
Court đă quyết định sai về vụ án kỳ
thị này khi đ̣i hỏi nguyên đơn phải minh
định yếu tố tranh tụng (state a claim) và
trực tiếp xin việc (applying) khi hành động
kỳ thị của khối bị cáo không cho phép thành viên
nguyên đơn thực hiện chuyện này.
(b) Ṭa
Superior Court đă quyết định sai về vụ án này
khi phán xét bên nguyên đơn không nêu ra được
yếu tố tranh tụng là họ thuộc một thành
phần bị kỳ thị theo tiêu chuẩn tuổi tác và
nguồn gốc quốc gia (age and national origin) theo
điều khoản luật M.G.L. c. 151B.
(c) Câu
hỏi này tương tự như câu hỏi (b) nhưng
được dựa theo điều khoản luật
M.G.L. c. 151C và cộng thêm tiêu chuẩn “non-religious creed” (ư
thức hệ).
(d) Ṭa Superior
Court đă quyết định sai về vụ án kỳ
thị này khi phán xét là c̣n nhiều lư do khác (alternate grounds) có
thể loại bỏ hồ sơ kiện tụng của
khối nguyên đơn.
Trong
phần lư luận, luật sư nguyên đơn tŕnh bày
sơ lược về vụ án cũng như cố
gắng định nghĩa Vietnamese Diaspora (Cộng
Đồng Người Việt Lưu Vong) nhằm
chứng minh rằng WJC đă kỳ thị người
Mỹ gốc Việt Nam Cộng Ḥa trên 40 tuổi khi thuê
mướn học giả trong đó có nhân viên đảng
CSVN (admitted agents) cho chương tŕnh “(Re)Constructing
Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” vốn là những cá
nhân không đủ tiêu chuẩn, thiếu kinh nghiệm về
Cộng Đồng Người Việt Lưu Vong
(insufficient qualifications, no experience of the Vietnamese Diaspora)
dựa trên tiêu chuẩn học vấn và kinh nghiệm
của 9 nguyên đơn Nguyễn Hữu Luyện, Bùi
Diễm, Dinh Tu Nguyen, Lê P. Sang, Nguyễn Tường Bá,
Trần Minh Xuân, Phan Nhật Nam, Nguyễn Thanh Liêm,
Nguyễn Văn Chức vốn là những người có
học vị cao và kinh nghiệm phong phú.
Luật
sư nguyên đơn sau đó tŕnh bày các tiêu chuẩn
luật pháp liên quan đến quyết định bác
bỏ một hồ sơ kiện tụng (the sufficiency
of a complaint) và cố gắng áp dụng vào vụ WJC. Theo khối nguyên đơn,
quyết định bác bỏ đơn kiện WJC của
Ṭa Superior Court sai trái không những về mặt luật
pháp mà c̣n bao gồm cả b́nh diện dữ kiện
(errors of law and fact). Luật
sư nguyên đơn đưa ra nhiều căn bản
pháp lư cũng như dữ kiện để bảo vệ
lư luận kháng cáo. Trong nhăn quan của người viết
dựa trên kinh nghiệm cá nhân, lư luận sáng giá nhất có
lẽ là tiêu chuẩn luật pháp liên quan đến Motion to
Dismiss (yêu cầu bác đơn) trong tiến tŕnh thụ lư
vụ án; một số lư luận khác có vẽ đi khá xa
với thực tế dữ kiện của vụ án
như việc phân trần pháp giải điều khoản
luật M.G.L. c. 151C [nhưng rất tiếc là không
dẫn chứng được các quyết định
của ṭa án trong quá khứ, hay lời bàn của các nhà
lập pháp khi điều nghiên M.G.L. c. 151C hoặc ít
nhất là ư kiến của một số học giả
liên quan đến ‘legislative intent’].
Theo
luật sư nguyên đơn về tiêu chuẩn luật
pháp liên quan đến Motion to Dismiss (yêu cầu bác
đơn), Ṭa Superior đă bác bỏ đơn kiện WJC
dựa trên sự khai triển dữ kiện bất
hợp pháp (bất lợi) cho khối nguyên đơn mà
không chú ư đến các yếu tố tranh tụng khác (drew
impermissible inferences against the plaintiffs, and ignored numerous other
allegations of the Complaint). Ṭa Superior đă không nhận
thức đúng yếu tố tranh tụng (inaccurate characterization
Plaintiffs’ Complaint) và đă tự quyết định sai
trái về yếu tố “ác ư kỳ thị” (intentional
discrimination) vốn là vấn đề dữ kiện
khó có thể được phán xét trong một phiên xử
về Motion to Dismiss, v.v.
Như
đă tŕnh bày ở trên, khối nguyên đơn cho là
quyết định bác bỏ đơn kiện WJC của
Ṭa Superior Court sai trái không những về mặt luật
pháp mà c̣n bao gồm cả b́nh diện dữ kiện (errors
of law and fact). Kinh nghiệm
cá nhân của tôi cho thấy Motion to Dismiss (yêu cầu bác
đơn) của khối bị cáo khó có thể thành
công trong một vụ kiện dân sự v́ đ̣i hỏi
chánh án phải điều tra dữ kiện để
quyết định là yếu tố tranh tụng không
tồn tại; do đó, ít khi yêu cầu bác đơn
được phê chuẩn và vụ án WJC là một thí
dụ điển h́nh hiếm hoi có phải là do đơn
kiện tụng thuộc loại bổ túc (Second Amended
Complaint) hay không bởi v́ chính luật sư của
khối bị cáo trong tài liệu Phủ Pháp Luận (Brief
of the Respondents) cũng phải công nhận là khi truy xét
Motion to Dismiss (yêu cầu bác đơn) theo điều
khoản 12(b)(6), ṭa án phải chấp nhận tất
cả các lời cáo buộc và những ư kiến suy
diễn dựa trên đó [Spinner v. Nutt, 417 Mass. 549,550 (1994)].
Thay v́
phủ định bốn câu hỏi của khối nguyên
đơn, khối bị cáo đưa ra bốn vấn
đề khác trong Phủ Pháp Luận (Brief of the Respondents)
như sau:
(a) Ṭa Superior Court đă quyết
định đúng khi bác bỏ vụ án kỳ thị
về thuê mướn (failure-to-hire) v́ các nhân tố nguyên
đơn chưa bao giờ nộp đơn xin việc.
(b) Ṭa
Superior Court đă quyết định đúng v́ nguyên
đơn không có yếu tố tranh tụng (state a claim)
về kỳ thị theo tiêu chuẩn ư thức hệ chính
trị (political beliefs).
(c) Ṭa
Superior Court đă quyết định đúng khi bác bỏ
vụ án theo điều lệ MGL c. 151C bởi v́ các nhân
tố nguyên đơn không xin học, theo chương tŕnh
trên mức cử nhân (beyond a bachelor’s degree), và bởi v́ ư
thức hệ cộng sản không phụ thuộc lănh
vực của luật MGL cũng như khối nguyên đơn
chưa từng khiếu nại với Ủy Ban Chống
Kỳ Thị Tiểu Bang
Massachusetts (MCAD) trước khi tiến hành vụ án.
(d) Ṭa Superior
Court đă quyết định đúng khi bác bỏ vụ
án v́ thiếu pháp quyền theo điều lệ MGL c. 151B
bởi v́, ngoài Nguyễn Hữu Luyện, các nhân tố
nguyên đơn khác chưa từng khiếu nại với
Ủy Ban Chống Kỳ Thị Tiêủ Bang Massachusetts (MCAD) trước khi
tiến hành vụ án.
Trong
phần lư luận, luật sư nguyên đơn nhấn
mạnh sự kiện nguyên đơn Nguyễn Hữu
Luyện từng bị MCAD bác đơn trước khi
khởi tố vụ án WJC và, song song, tất cả thành
viên khối nguyên đơn chưa từng nộp
đơn xin việc với chương tŕnh “(Re)Constructing
Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” cả ba niên khóa 2000,
2001, 2002 do đó không thể kêu ca là bị kỳ thị
thuê mướn (hiring discrimination).
Lư do được khối nguyên đơn đưa
ra để giải thích vấn đề
không-nộp-đơn-xin-việc là thiên kiến chủ quan
(subjective belief) của họ cho rằng đơn nộp
vẫn bị kỳ thị từ chối bởi v́ hệ
quả của vụ khiếu nại với MCAD chứ
không phải do hành động kỳ thị của
khối bị cáo; và Phủ Pháp Luận cho là thiên kiến
chủ quan (subjective belief) chưa bao giờ được
ṭa án công nhận để bao che cho vấn đề
không-nộp-đơn-xin-việc.
Theo
khối bị cáo, luật hiện hành của
Phủ
Pháp Luận lư giải là khối nguyên đơn không
chứng minh được là khối bị cáo có chính sách
kỳ thị (a systematic policy of repeated discrimination) cũng
như nhân viên Đại Học
Ư kiến
đặc sắc nhất của luật sư khối
bị cáo có lẽ là sự viện dẫn năm sinh
của một vài nguyên đơn như Bùi Diễm (1923) hay
Phan Nhật Nam (1942) để chứng minh là vào các năm
đó Việt Nam Cộng Ḥa chưa xuất hiện, và chính
khối nguyên đơn cũng cho biết là VNCH hiện
hữu năm 1954 (trước khi họ sinh thành); và đi
xa hơn nữa, sự khác biệt giữa hai khối
người Việt ở miền Nam và miền Bắc là ư
thức hệ chính trị vốn không được
bảo vệ bởi luật hiện hành của Massachusetts
(“M.G.L. c.151B .. did not extend that protection of political thought”;
“there are no reported decisions in
Các
phần khác trong Phủ Pháp Luận liên hệ đến
phương thức truy pháp (procedures) như MCAD hay
jurisdictional defense và viện dẫn lư luận pháp
định rườm rà mà các luật sư kinh nghiệm
về ṭa án đều biết là khi yếu về dữ
kiện mới truy cập đến pháp lư trước
ṭa. Tựu trung, Phủ Pháp
Luận của khối bị cáo tương đối
mạch lạc hơn tài liệu Kháng Pháp Luận của
khối nguyên đơn vốn phải tŕnh bày hơi dài
ḍng về ‘người Mỹ gốc Việt Nam Cộng
Ḥa trên 40 tuổi’ - mức tuổi mà tác giả của bài
này c̣n chưa đạt đến hôm nay (2005).
Reply
Brief of Appellants (Phản Pháp
Luận)
Phản
Pháp Luận là tài liệu của khối nguyên đơn trả
lời các vấn đề do khối bị cáo đưa
ra trong Phủ Pháp Luận (Brief of Respondents). Phản Pháp
Luận của khối nguyên đơn về h́nh thức
th́ tương đối sáng sủa mạch lạc hơn
Kháng Pháp Luận (Brief of Appellants) và, về nội dung,
chứa đựng nhiều lư luận ngắn gọn nhưng
đặc sắc hơn, có lẽ bởi v́ Kháng Pháp
Luận phải giải thích rườm rà về Vietnamese
Diaspora (Cộng Đồng Người Việt Lưu Vong)
cũng như chương tŕnh “(Re)Constructing Identity and
Place in the Vietnamese Diaspora.” Một vài dẫn chứng và
lư luận trong Phản Pháp Luận đáng lưu ư sẽ
được tóm tắt trong phần kế tiếp.
Trái
với sự tŕnh bày của khối bị cáo, trong niên khóa
2000-2001 không ai trong khối nguyên đơn biết
được về việc thuê mướn nhân viên nghiên
cứu cho chương tŕnh “(Re)Constructing Identity and Place in
the Vietnamese Diaspora” do cách quảng cáo sai lệch
đến khi việc nhận đơn đă kết thúc.
Và vào ngày 27-10-2000, khối nguyên đơn đă đệ
đơn kiện WJC do đó trên b́nh diện khách quan
họ có quyền tin (reasonably believed) là nếu nộp
đơn trong các năm 2001-2003 th́ cũng bị từ
chối. Ṭa án không thể bác
đơn kiện về kỳ thị bởi v́ vấn
đề này dựa theo tiêu chuẩn dữ kiện
(evidentiary standard) chứ không phải là phương
thức truy pháp (pleading standard) [Swierkiewics v. Sorema N.A.]. [Người viết cảm
thấy ngạc nhiên là tại sao Phản Pháp Luận không
tŕnh bày sơ ở đây về quyết định Winbush
v. State of Iowa By Glenwood State Hosp., 66 F.3d 1471, 1478 (8th
Cir., 1995) vốn phán xét là “application was not required because either
the position was not advertised or the employer misled them to believe that
applying would be futile” mà lại chỉ ghi tên quyết
định này dưới phần footnote chung với các
quyết định khác bởi v́ Chánh Án thường không
có thời giờ để đọc các quyết
định ghi trong phần footnotes.]
Song
song, khối nguyên đơn không truy kiện về vấn
đề kỳ thị dựa trên ư thức hệ chính
trị. Nền tảng truy tố WJC liên quan đến hành
động kỳ thị của WJC đối với ‘người
Mỹ gốc Việt
Về
đ̣i hỏi phải khiếu nại với Ủy Ban
Chống Kỳ Thị TB Massachusetts (MCAD) trước khi
tiến hành vụ án, Phản Pháp Luận lư giải là
việc này không phải là vấn đề tiên quyết
(Edwin v. Blenwood Assocs., Inc., 9 F.Supp.2d 70, 74). Vă lại, trong vụ này, các thành
viên của khối nguyên đơn đă khiếu nại
với MCAD vào ngày 18-4-2001. Một vài lư luận khác trong
Phản Pháp Luận liên quan đến khía cạnh pháp
giải như M.G.L. c.151B và M.G.L. c.151C có vẽ suy biện
nhiều và, theo suy đoán của người viết
dựa trên kinh nghiệm, thực tế sẽ không quan
trọng khi so sánh với trọng điểm của
vụ kháng cáo là quyền hạn bác bỏ đơn
kiện WJC của Ṭa Superior Court dựa trên điều
khoản 12(b)(6) vốn đ̣i hỏi ṭa án phải chấp
nhận tất cả các lời cáo buộc và những ư
kiến suy diễn theo đó [Spinner v. Nutt, 417 Mass. 549,550
(1994)].
Trên
đây là tài liệu tóm lược hồ sơ kháng án
vụ WJC gồm ba phần Kháng Pháp Luận, Phủ Pháp
Luận và Phản Pháp Luận được thực
hiện dựa trên sự hiểu biết và kinh nghiệm
cá nhân trực diện với thực tế giới
hạn của thời gian.
Trong điện thư ngày 30-8-2005, chú
Nguyễn Hữu Luyện có yêu cầu tôi cho ư kiến
“THẬT CHÍNH XÁC” về xác suất thành công hay thất
bại của vụ kháng cáo. Yêu cầu của chú NH
Luyện đ̣i hỏi một ư kiến chuyên nghiệp
của luật sư có giấy phép và kinh nghiệm hành
nghề ở Massachusetts dựa trên không những
chiều sâu kiến thức pháp luật và bề dày thủ
thuật hầu ṭa mà c̣n cả sự thông suốt tinh
tế về quá khứ cũng như quan điểm
của Thẩm Phán Đoàn qua các quyết định và sinh
hoạt trong nhiều năm qua.
V́ chú
NH Luyện cho biết “Phần này xin ông viết THẬT
CHÍNH XÁC, chính xác 100%, v́ sẽ có nhiều Luật Sư khác
đọc nữa, … sẽ đưa lên báo chí, radio và trên
các websites, các diễn đàn điện tử trên mạng
lưới toàn cầu..,” tôi không có chọn lựa nào
hơn là phải nói sơ về
kinh nghiệm ṭa án cá nhân để độc giả
hiểu người viết không chỉ biết học
tủ mà c̣n có chút ít kinh nghiệm về thực hành. Từ khi tôi từ chức trách
vụ Biện Lư Viện Công Tố Toronto (
Dựa
trên kinh nghiệm thực tế hơn một thập niên
ra vào nhiều ṭa án, ư kiến cá nhân của tôi - không
phải là ư kiến chuyên nghiệp v́ bằng hành nghề
luật sư Upper Canada của tôi không bao trùm Massachusetts -
là khối nguyên đơn nên giữ thế trung dung
bất-luận bởi v́ lư lẽ đối kháng dẫu có
vững vàn vẫn c̣n tùy thuộc rất nhiều vào
nhĩ-mục [và, trong vụ WJC, chính-trị-quan]
của Thẩm Phán Đoàn thụ lư hồ sơ kháng cáo. Cơ
hội thành công của vụ kháng cáo WJC tương
đối cao nếu được thụ lư bởi
một Thẩm Phán Đoàn thông thái chịu khó theo dơi (intellect),
công bằng (fair/just) và không thiên vị (neutral) để
tránh các yếu tố khác như “nếp nhăn chính
trị” ảnh hưởng thiên lệch tiến tŕnh
thẩm định. Trong
một số vụ án, chính cá nhân tôi phải chuyển
dời theo chiến lược “chọn mặt gởi
vàng” bởi v́ sự an nguy của thân chủ đ̣i
hỏi luật sư tận tâm phải cố gắng nâng
cao xác suất thành công khi khả năng cho phép hữu lư và
hợp pháp. Song song, sự kiện tôi có bạn hiện
đang làm Chánh Án và Đại Thẩm Phán Louis Matheson -
dưỡng phụ nuôi dạy tôi từ năm 14 tuổi
khi vừa đến Canada bơ vơ không cha mẹ -
từng hoạt động chính trị hăng say
trước khi trở thành Chánh Án có giúp làm sáng tỏ thêm
yếu tố ch́m của chính-trị-quan được tôi
nêu ra hay không? Tục ngữ “justice is blind” hay “pháp
bất vị thân” chỉ để triết-gia viết
sách và giáo-sư sinh-viên tụng niệm ở giảng
đường phân khoa Luật chứ khó áp dụng hoàn
hảo vào quan trường nơi mà nữ thần luật
pháp luôn luôn bị che mắt có thể cầm kiếm chém
lầm khổ chủ.
Vụ
kháng án WJC không phải là loại “hết hy vọng” (lost
cause) nhưng thuộc loại chiến trận gay co (up
hill battle) cần đến sự thận trọng
cần thiết và kiên nhẫn lâu dài. Những phản ứng
đầy cảm tính chính trị chỉ có giá trị
bồi bổ tâm lư ngắn hạn nhưng dễ tàn
lụi như rơm khô trước sức nóng của
nhiệt độ ṭa án.
Bắc Mỹ có câu “When the going gets tough, the tough gets
going” đại khái có nghĩa trong t́nh trạng khó
khăn, những người dám xông pha đều thuộc
loại can đảm đa tài như câu ngạn ngữ
Việt
Vào
tháng 5-2004, trong bửa cơm thân t́nh do anh chị Hứa
Văn Thinh khoăn đăi, tôi gặp chú Nguyễn Hữu
Luyện đến
Dương
Thành Lợi
Barrister
& Solicitor
Lloyd
Duong Attorneys Atrium