VỤ KIỆNTRUNG TÂM WILLIAM JOINER

THUỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MASACHUSETTS BOSTON

                                                                                                                       Nguyễn Hữu Luyện

 

Lời giới thiệu của Ban Biên Soạn

 

Mùa thu 1999, UMass Boston nhận số tiền 250 ngàn Mỹ Kim của Rockefeller Foundation để mở chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng người Việt [Vietnamese diaspora]. Chương tŕnh này mang tên “(Re)Constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora”.  Chính Đại Học Massachusetts Boston dich ra Việt ngữ là: “ Tái Xây Dựng Diện Mạo và Quê Hương của Người Việt ở Nước Ngoài”.

 

Trong vụ kiện William Joiner Center thuộc University of Massachusetts Boston (WJC/UMB), khi làm deposition, đây là một thủ tục, luật pháp cho phép bên nguyên đơn lấy cung bên bị cáo, và ngược lại.  Luật Sư James P. Keane [Đại diện nguyên đơn] hỏi Tiến Sĩ Kevin Bowen, Giám Đốc WJC/UMB:

 

* “Mr. Keane: Correct me if I’m wrong. Isn’t the diaspora those Vietnamese after 1975 who were basically exiled or left Vietnam?

Luật Sư Keane: Vui ḷng sửa lại nếu tôi sai. Có phải diaspora căn bản là những người Việt Nam lưu vong hoặc đi khỏi Việt Nam sau 1975?

 

* Dr. Kevin Bowen: We defined it as ’75, after ’75

Tiến Sĩ Kevin Bowen: Chúng tôi định nghĩa là [19] ’75 và sau [19] ’75

[Dr. Kevin Bowen, Director of WJC/UMass Boston’s deposition, pages 107-109]

 

Như vậy mục đích của chương tŕnh này là nghiên cúu về người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản.

 

* * *

 

 

TỪ CHƯƠNG TR̀NH NGHIÊN CỨU TỚI VỤ KIỆN

 

Kư ức về chiến tranh Việt Nam là một chấn thương nội tâm và tự thân cuộc chiến tranh này là một vết hằn xâu đậm trong tinh thần tự trọng và tự hào của người Mỹ. Do đó, giới trí thức Mỹ nh́n vào di sản của cuộc chiến tranh Việt Nam với những cái nh́n khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Môt số tỏ ra khâm phục chế độ Cộng Sản tại Việt Nam - người chiến thắng cuộc “Chiến tranh Việt-Mỹ[1] [theVietnam-American War ]”, đây là cách nói của những người Mỹ có khuynh hướng phản chiến, những người Mỹ khác th́ cố gắng t́m hiểu nguyên nhân thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam [the Vietnam War] -- một thảm họa lịch sử của nước Mỹ.

 

Thuộc nhóm người Mỹ khâm phục Cộng Sản Việt Nam, WJC/UMB dựa trên quan điểm “chiến tranh Việt-Mỹ” để thực hiện chương tŕnh nghiên cứu về một cộng đồng được dư luận thế giới gọi là người Việt tỵ nạn Cộng Sản (Vietnamese refugees from Communism).[2]  Chính v́ cái danh xưng tỵ nạn Cộng Sản mà WJC/UMB phải viết lại cái căn cước đích thực này để tạo ra một cái nh́n của lịch phù hợp với quan điểm “chiến tranh Việt-Mỹ” của họ.  Xoá bỏ h́nh ảnh người Việt tỵ nạn Cộng Sản có nghĩa là xoá bỏ tội ác của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam.  Việc làm của WJC/UMB với sự tham dự của một số học giả của chế độ Cộng Sản Việt Nam mang cùng một mục đích với việc Hà Nội dùng áp lực ngoại giao để đ̣i hỏi Indonesia và Malaysia phải phá huỷ các đài tưởng niệm “Thuyền Nhân Việt Nam”, đă chết trên thê thảm trên đường đi t́m tự do, mặc dàu các đài tưởng niệm này chỉ được dựng lên tại các trại tỵ nạn trước đây, trên những ḥn đảo hoang vắng để ghi ơn chinh phủ và nhân dân hai nước đả rộng ḷng cưu mang những thuyền nhân c̣n sống sót[3].

 

Nước Mỹ và thế giới gọi cuộc chiến tranh ư thức hệ tại Việt Nam là Chiến Tranh Việt Nam (The Vietnam War); nhưng những người Mỹ có khuynh hướng phản chiến th́ gọi là cuộc chiến tranh Việt-Mỹ (the Vietnam-American War) nhằm thay đổi sự thật lịch sử, dành chính nghiă cho chế độ Cộng Sản Việt Nam v́ đă tiến hành cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” chứ không phải là cuộc chiến tranh bành trướng chủ nghĩa Cộng sản tại vùng đông nam Châu Á trong  thời kỳ chiến tranh lạnh (the Cold War) của hậu bán thế kỷ 20. Từ quan điểm lệch lạc đó, WJC/UMB đă bước qua luật pháp, những nguyên tắc hành xử đại học (code of academic conduct), cũng như những quy luật căn bản của ngành nghiên cứu như đạo đức (code of ethics in research) liêm chính (code of research integrity) phương pháp học (research methodology) vân vân để đạt mục đích chính trị của họ. Bài viết này chỉ đề cập tới những ǵ thuộc về luật pháp, và những ǵ thuộc về nguyên tắc hàn lâm (code of academic conduct) mà thôi.

 

 

 

CHƯƠNG TR̀NH NGHIÊN CỨU VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN

                                              [VIETNAMESE DIASPORA]

 

 

Mùa thu 1999, UMass Boston nhận số tiền 250 ngàn Mỹ Kim của Rockefeller Foundation[4] để mở chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản. Chương tŕnh này mang tên “(Re)Constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora”. Mục đích của chương tŕnh này đă được ghi rơ trong kế hoạch nghiên cứu:

          

                 chủ đề của chương tŕnh này là viết lại căn cước và vị trí của những người Việt Nam rời Việt Nam sau 1975” (Our central theme focuses on (re)constructions of identity and place in the Vietnamese diaspora after 1975 [5]).

 

Căn cước tỵ nạn Cộng Sản được WJC/UMB xây dựng lại theo mô h́nh của ông Hoàng Ngọc Hiến, đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam[6],nguyên Giám Đốc trường dạy viết văn Nguyễn Du của Đảng Cộng Sản tại Hà Nội, Việt Nam, được mời viết cho năm thứ nhất của chương tŕnh ghi rơ như sau:

 

               “Việc thực hiện những mục tiêu lớn được đặt ra trong đề án: Phát triển

                 và củng cố cộng đồng hoà giải với quê hương, đất nước... trước hết đ̣i

                 hỏi tinh thần khoan hoà.  Để phát huy tinh thần khoan hoà hằng trở về

                 nguồn và đó là tư tưởng “tam giáo đồng nguyên”, một truyền thống lớn

                trong lịch sử văn hoá Việt Nam [7]

 

Trong đoạn khác ông Hoàng Ngọc Hiến nhấn mạnh hơn nữa:

 

“Một nhiệm vụ cụ thể quan trọng của đề tài: Gắn bó đề tài với nhiệm vụ ḥa gỉai và tư tưởng ‘đồng nguyên’ văn hóa ở Hồ Chí Minh... th́ đây là một bài học quan trọng đối với sự nghiên cứu và thảo luận những đề tài của Đề Án [8]”.

 

Tiến Sĩ Kevin J. Bowen, hoàn toàn đồng quan điểm với ông Hoàng Ngọc Hiến về tinh thần hoà hợp và hoà giải vốn có trong tâm tư người Việt Nam và Tiến Sĩ Kevin J. Bowen cho rằng cả đảng Cộng Sản Việt Nam lẫn cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản đều lấy truyền thống văn học và đạo lư thời Lư - Trần làm căn cước (identity) của ḿnh. Dưới đây là đoạn trích trong hồ sơ khai cung có tuyên thệ giữa Luật Sư James P. Keane đại diện nguyên đơn và Tiến Sĩ Kevin J. Bowen, Giám Đốc WJC/UMB

 

* LS Keane: Câu hỏi tôi đang hỏi là mang một nhà thơ chuyên về thơ văn

từ thế kỷ thứ 10 tới 14 [ông Nguyễn Huệ Chi] vào chương tŕnh để làm ǵ?

 

* Tiến Sĩ  Kevin J. Bowen: “Vâng, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam, và cũng là thời kỳ mà các học giả đang bàn luận rất nhiều về ư nghiă, về những ǵ đă xẩy ra và ảnh hưởng của thời kỳ đó đối với căn cước của người Việt Nam. Có một tác phẩm quan trọng của một học giả Mỹ nh́n vào vấn đề làm thế nào mà cả người tỵ nạn Cộng Sản  lẫn đảng Cộng Sản cùng dùng thời kỳ Lư Trần để chính thống hóa ư nghiă lịch sử của ḿnh . . .  Sự hoà đồng và tiến hóa của đạo Phật, đạo Lăo, đạo Khổng chính là cái căn cước (identity) của người Việt Nam và tất cả đều được truy nguyên về thời kỳ đó [9]

 

Theo kế hoạch nghiên cứu của WJC/UMB th́ những cống hiến của các nghiên cứu viên năm thứ nhất sẽ đặt nền tảng hiểu biết về sự phát triển của những tiếng nói và căn cước (identity) của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Việc đem thuyết “tam giáo đồng nguyên”vào chương tŕnh nghiên cứu để làm tiền đề “hoà hợp” cho việc thực hiện kế hoạch tạo ra sự hoà hợp giữa người tỵ nạn Cộng Sản với chế độ Cộng Sản trong nước[10] chính là nền tảng của chương tŕnh nghiên cứu này.  Việc làm của WJC/UMB hoàn toàn phù họp vói chủ trương của Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn hiện tại. 

 

Kế hoạch thực hiện nghiên cứu của WJC/UMB là một mạng lưới đan kết bằng những nghịch lư và hoàn toàn không trung thực.  Khuôn khổ bài viết này chỉ có thể đưa ra một vài điển h́nh mà thôi. Thí dụ, UMass Boston công bố một kế hoạch mà họ không bao giờ thực hiện.

 

            “...Những tài liệu thông báo về chương tŕnh nghiên cứu viết bằng

            chữ Việt sẽ được phổ biến rộng răi tới các cộng đồng địa phương và

            cộng đồng toàn quốc của người Việt Nam và các cơ quan báo chí,

            truyền thanh, truyền h́nh mạng lưới toàn cầu bằng Việt ngữ  . . . [11]

 

Mặc dù chương tŕnh mới mở ra, nhưng bài viết đă được lựa chọn trước khi tuyển nghiên cứu viên .  Liên tiếp trong 10 năm trước khi mở chương tŕnh nghiên cứu này, mỗi năm có một phái đoàn nhà văn từ Việt Nam sang làm việc tại UMB, họ đă  đem hết tai liệu được viết bởi  những phái đoàn đó vào chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản, như vậy là  họ đă có chủ đích dùng người Cộng Sản để viết về người tỵ nạn Cộng Sản.

 

“...để đạt mục đích này, chúng tôi chủ trương nối liền chương tŕnh mà chúng tôi đang dành cho các nhà văn và học giả văng lai từ Việt Nam tới với chương tŕnh do Rockefeller Foundation bảo trợ qua suốt 3 năm, càng nhiều càng tốt và t́m kiếm phương tiện thích hợp để phát hành và phổ biến các tài liệu của các học giả này trên báo chí và các hệ thống điện tử trong cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản.[12]”.

Mục đích nói trên đă khiến cho WJC/UMB vướng mắc vào những sai phạm rất sơ đẳng.  Theo quy luật đại học, khi xét thấy có dấu hiệu “mâu thuẫn quyền lợi” [conflict of interest] giữa người viết nghiên cứu với chủ đề nghiên cứu th́ giới chức có trách nhiệm thực hiện chương tŕnh nghiên cứu phải thay ngay nghiên cứu viên để bảo đảm giá trị vô tư của chương tŕnh. Nhưng thực tế chứng minh rằng bản thân những giới chức có thẩm quyền của WJC/UMB đă là bằng chứng của “conflict of interest” rồi.  Thí dụ trong bài tiểu luận nhan đề “Chiến Tranh Việt Nam và Việt Nam (The Vietnam War and Vietnam)” viết bằng Anh ngữ, có đoạn ông Nguyễn Bá Chung, Giám Đốc chương tŕnh viết:

Tôi tin rằng Hoa Kỳ có những mục đích cao cả ở Việt Nam - tụ do và dân chủ. Nhung v́ Hoa kỳ đă liên kết với một nhóm người Việt mang đầy dấu vết  thực dân, và hầu hết họ đă phản bội lịch sử của dân tộc Việt Nam . . . Hồ Chí Minh có tất cả chính nghiă -- độc lập, thống nhất và công lư xă hội – nhưng v́ không có quốc gia phương Tây nào ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, ông Hồ và những nhà cách mạng của ông đă phải liên kết với chủ nghiă Cộng Sản [13] 

Bài viết này không bàn tới lập trường chính trị của ông Nguyễn Bá Chung đúng hay sai, mà chỉ bàn về khía cạnh phương pháp học trong nghiên cứu (research methodology) về nhân văn  mà thôi. Giám Đốc chương tŕnh nghiên cứu mang nặng tư tưởng thù nghịch đối với chủ đề nghiên cứu và qúa tôn sùng bên thù nghịch vói chủ đề nghiên cứu, như vậy làm sao có thể nói tới tính vô tư và khách quan của công tŕnh nghiên cứu này?

Hơn thế nữa, Tiến Sĩ Kevin J. Bowen, thẩm quyền cao nhất của chương tŕnh cũng là hiện thân của “conflict of interest”, đoạn trích dưới đây là một bằng chứng điển h́nh.

“Ngay từ tháng Tám năm 1999, Hôi Nhà Văn Việt Nam [tại Việt Nam] đă xuất bản tạp chí văn chương bằng Anh ngữ, chủ yếu là những tác phẩm của Hồ Chí Minh và nhửng nhà văn nổi tiếng của Việt Nam [Cộng Sản].  Hội nhà văn cũng cho biết những dịch gỉa đă sẵn ḷng cộng tác với tạp chí Văn Chương Việt Nam gồm các nhà thơ Mỹ và nhà thơ Việt Nam đang sống tại  Mỹ  ở Boston thuộc tiểu bang Massachusetts, như Giáo Sư Kevin Bowen (Đại Học Tổng Hợp Massachusetts), nhà thơ Buso Ioh, nhà thơ người Việt Nguyễn Bá Chung . . . Đối tượng độc giả chính là người nước ngoài và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài [14] 

 

WJC/UMB  đă biến cuộc ra đi vĩ đại nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử đấu tranh của nhân loại trở thành cuộc ra đi của những kẻ “chạy trốn tổ quốc [15]” như Hoàng Khởi Phong, một nghiên cứu viên của chương tŕnh này đă nói trong cuốn sách “Nếu Đi Hết Biển” của Trần Văn Thủy. Đây là lần đầu tiên WJC/UMB cho xuất bản một phần của chương tŕnh nghiên cứu về cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản. Cuốn sách này được chính thức mang danh xưng “CHƯƠNG TR̀NH NGHIÊN CỨU CỦA UNIVERSITY OF MASSACHUSETTS BOSTON”  và danh xưng này được trang trọng in trên trang giấy thứ nhất của cuốn sách. Tác giả Trần Văn Thuỷ là nhà đạo diễn phim ảnh của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam, đă từng vào B [chiến trường miền Nam] trước 1975 để làm công tác tư tưởng.  Ông Trần Văn Thuỷ được tuyển chọn viết cho năm thứ ba của chương tŕnh.

 

 

 

II.  PHẢN KHÁNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT

(VIETNAMESE DIASPORA)

 

 

1.  Những thông tin về việc làm của WJC/UMass Boston được phổ biến trên mạng lưới toàn cầu [Internet] từ tháng 3/2000.

 

2.  Từ tháng 3 tới tháng 8/2000 cộng đồng Việt Nam trên khắp thế giới gửi kháng thư ồ ạt về Rockefeller Foundation, Viện Trưởng Viện Đại Học Massachusetts Boston, và Giám Đốc WJC. Trong số kháng thư đó có nhiều người Mỹ.  Yểm trợ cho phong trào phản kháng có cả  giới đại học, các vị dân cử cấp tiểu bang và liên bang, và một số các vi dân cử từ các quốc gia khác đă nhân danh cử tri gốc Việt để can thiệp vào vấn đề này.

 

3.  Ngày 25 tháng 8 năm 2000, phái đoàn của cộng đồng Việt Nam tại Massachusetts  vào họp với WJC để giải quyết vấn đề.  Rất tiếc WJC có thái độ quá ngạo mạn và ngoan cố nên buổi họp không đem lại kết qủa nào hết.

 

4.  Tối mồng 1 tháng 10 năm 2000, nhân cuộc tranh luận [debate] giữa hai ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và Al Gore tại đại học Massachusetts Boston, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts đă tổ chức cuộc biểu t́nh với hơn 300 đồng bào tham dự, ngay tại cổng UMass Boston. Báo chí, radio và truyền h́nh Mỹ dă tới phỏng vấn nhiều thành viên trong đoàn biểu t́nh. Đài truyền h́nh FOX NEWS đả loan tin này. Đây chỉ là những phản ứng chính yếu trong giai đoạn phản kháng.  Những biện pháp khác như tẩy chay, phê phán trên NET, trên báo chí hoặc hội thảo tại khắp nơi để tố giác âm mưu của UMass Boston rất nhiều, không thể kể hết được.  Dưới đây là một h́nh ảnh điển h́nh cho phong trào phản kháng tại nhiều quốc gia.  Buổi hội thảo tại trường trung học Cleverland trong vùng Dorchester gồm có các phái đoàn từ 18 tiểu bang và các đại biểu từ Âu Châu về để tố giác việc làm đen tối của WJC/UMB , đă được báo The Boston Globe, tờ báo lớn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


nhất của tiểu bang Massachusetts loan tin trong hai ngày 27 và 28 tháng 8 năm 2001.

 

 

III.  ĐƯA VỤ WJC/UMB RA TRƯỚC CÔNG LƯ:

MỘT LỰA CHỌN BẤT ĐẮC DĨ

 

Nhận thấy mọi nỗ lực nhằm điều chỉnh thiên lệch của WJC/UMB trong hơn một năm trời hoàn toàn vô hiệu qủa. Mặc dàu cộng đồng người Việt không muốn, nhưng phải chọn giải pháp duy nhất để giải quyết vấn đề WJC/UMB là đưa họ ra trước công lư.  V́ WJC/UMB phải tập trung cố gắng vào việc chọn lưạ trước các nghiên cứu viên là người của họ nhằm thực hiện mục đích chính trị, cho nên khi tuyển nghiên cứu viên cho năm thứ nhất, WJC/UMB đă vướng mắc vào luật kỳ thị về ư thức hệ, quốc tịch gốc, giáo dục, tuổi tác và việc làm. Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn Cộng Sản đă thực hiện phong trào gây quỹ pháp lư tại nhiều quốc gia để góp tiền cho nhóm nguyên đơn khởi tố WJC/UMB trước Toà Superior tại Quận Suffolk, Boston-Massachusetts là điạ phương của UMB.

 

Vụ kiện này nhằm vào hai mục đích:

·        Vô hiệu hoá chương tŕnh nghiên cứu hoàn toàn không trung thực của WJC/UMB.

·        Bảo vệ căn cước (identity) và vị trí lịch sử của người Việt tỵ nạn Cộng Sản

 

1.  Ngành đại học Hoa Kỳ đă thiết lập cơ cấu tổ chức nhằm chế tài những vi phạm đạo đức của các cơ quan nghiên cứu, đó là Office of Research Integrity.  Trái với những hiểu biết thông thường, cho rằng các trường đại học tại Hoa Kỳ có quyền tự trị đại học  [academic freedom] nên họ muốn làm ǵ th́ làm.   Thực tế th́ các đại học tại Hoa Kỳ phải chịu sự chi phối của luật pháp và những nguyên tắc hàn lâm (Code of academic conduct) một cách rất khắt khe. Các chương tŕnh nghiên cứu phải tuân thủ những quy luật nghiêm khắc trong “code of ethics in research”.  Vi phạm vào luật lệ này có thể dẫn đến việc bị hủy bỏ toàn bộ chương tŕnh hoặc các học giả vi phạm luật lệ có thể bị cấm tham dự các chương tŕnh nghiên cứu trong nhiều năm.  Một thí dụ điển h́nh là gần đây nhất, ngày 23-7-2004, tiến sĩ Nancy J.Strout thuộc  đại học Maine, đă bị Office of Research Integrity áp dụng biện pháp chế tài, bà bị loại không được tham dự các cuộc nghiên cứu trong thời hạn ba năm (Federal Register: August 9, 2004).

 

Cộng Đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản là chủ đề nghiên cứu của WJC/UMB.   Khi cơ quan này bị Cộng Đồng đưa ra trước công lư v́ vi phạm luật kỳ thị chống lại cộng đồng có nghiă là kỳ thị chống lại chủ đề nghiên cứu của họ và khi có bản án  xác định hành động kỳ thị th́ chương tŕnh nghiên cứu này cho dẫu có thực hiện ở quy mô lớn lao chưa từng thấy, cũng trở thành mớ giấy vô dụng nằm trong các kho tàng văn học sử.   Không một học giả nào, không một nhà nghiên cứu nào tham khảo một tài liệu đă được luật pháp xác nhận là kỳ thị chống lại chính cái chủ đề nghiên cứu của họ.   Đó là mục đích thứ nhất, nhằm vô hiệu hoá chương tŕnh nghiên cứu này.

 

2. Vụ kiện này ghi lại tiếng nói của cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản chống lại thái độ kỳ thị về ư thức hệ của WJC/UMB nhằm duy tŕ vị trí lịch sử của ba triệu người Việt Nam đă phải rời bỏ quê hương  sau biến cố 1975 là những người tỵ nạn Cộng Sản.  Vấn đề người Việt tỵ nạn Cộng Sản là một trang sử sôi động của thế giới.  Liên Hiệp Quốc và các quốc gia trong thế giới tư do đă cứu trợ người Việt tỵ nạn Cộng Sản trong thập kỷ 70s; 80s và 90s: đó một sự kiện lịch sử của thế giới. Vụ kiện này chỉ nhằm mục đích duy tŕ sự thật lịch sử là ba triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi sau biến cố 1975 là ba triệu người tỵ nạn Cộng Sản.

                                           

 

 

DIỄN TIẾN VỤ KIỆN

 

1.   Ngày October 26, 2000 đưa nội vụ vào Hội Đồng Bài Trừ Kỳ Thị của Tiểu Bang Massachusetts.

 

2.   Ngày October 3, năm 2001 nộp hồ sơ khởi tố lên Ṭa Superior Court tại Suffolk County [Boston] với tư cách  “class action” [kiện tập thể].  Vụ án số: 01-4507E

 

3.   Ṭa án chỉ định ngày tiền nghị án là November 19, 2002.  Thông lệ th́ ngày xét xử sẽ là 4 hoặc 6 tuần lề sau đó  (Tài Liệu Tham Khảo số 5)

 

 4.   Tới ngày Novembr 19, 2002 LS Keane báo tin phía bị cáo đang t́m kiếm giải pháp đê giải quyết bên ngoài Toà Án.  (Tài Liệu Tham Khảo số 6).  V́ phiá nguyên đơn từ chối nên bị cáo xin Toà cho hoăn tới ngày December 16, 2002

 

5.   Tới ngày  December 16, 2003 bị cáo lại xin Ṭa hoăn tới  August 1, 2003. 

 

6.   Ngày  May 29, 2003 Luật Sư Keane viết thư báo tin Ṭa Án bác bỏ class-action, các nguyên đơn khác bị gạt ra ng̣ai vụ kiện, chỉ c̣n một ḿnh Nguyễn Hữu Luyện ra ṭa với tư cách cá nhân.  (Tài Liệu Tham khảo số 10)

 

7.    Ngày October 29, 2003 bàn giao hồ sơ vụ kiện WJC giữa luật sư mới và luật sư cũ.

 

8.  Ngày October 30, 2003, hai Luật Sư mới là James C. Duff và Bradley S. Clanton thuộc Tổ Hợp LS Baker Donelson Bearman, Caldwell & Berkowitz , văn pḥng chính tại Washington D.C. là một trong 200 tổ hợp luật sư lớn nhất nước My, đă tới Boston để dự phiên hearing tại Ṭa Superior Court [Suffolk-Boston] để đưa tất cả hồ sơ của 9 nguyên đơn cư trú bên ngoài tiểu bang Massachusetts trở lại vụ án, với tư cách là 9  hồ sơ cá nhân, v́ class action đă bị bác bỏ.

 

9.  Ngày January 9, 2004 Luật Sư mới đă nộp cáo trạng mới (Second Amended Complaint). 

 

10.  Phiên hearing tại Suffolk Superior Court  ngày April 14, 2004 nhằm giải quyết những vấn đề :

*  Đơn của bị cáo xin bác bỏ đơn khởi tố mới của nguyên đơn

   (motion toDismiss The Second Amended Complaint)

*  Đơn của bị cáo xin miễn giao nộp tài liệu (Protective Order)

    và đơn xin đ́nh hoăn việc điều tra. (Motion to Stay

    Discovery)

*  Nguyên đơn xin Ṭa Án có biện pháp cưỡng chế và trừng

    phạt (sanctions) đối với bị cáo v́ đă dùng mọi thủ đoạn để

    kéo dài vụ kiện và lẩn tránh trách nhiệm.

    

11.  Ngày August 27, 2004, bà Chánh Án Janet Sanders đă ban hành quyết  định bác bỏ vụ khởi tố Trung Tâm William Joiner thuộc trường Đại Học  Massachusetts Boston. (Tài Liệu Tham Khảo số 3)

 

12. Trong thư gửi Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt của Tổ Hợp Luật Sư Baker Donelson, có đoạn viết: “Ngày August 27, 2004,  Chánh Án Janet Sanders đă chấp thuận Thỉnh Nguyện Thư của bị cáo xin bác bỏ Văn Bản Khởi Tố được tu chính lần  thứ hai của Nguyên Đơn.  Chúng tôi tin rằng phán quyết của Chánh Án không phù hợp với luật pháp của tiểu bang Massachusetts, như  đă phác thảo để phản  đối Thỉnh Nguyện Thư của trường đại học.  Theo đó, chúng tôi phải kháng cáo ngay phán quyết của Chánh Án  lên Ṭa Phúc Thẩm của tiểu bang Massachusetts.” (Tài Liệu Tham Khảo số 11)

 

13. Ngày October 5, 2004, Tổ Hợp luật Sư Baker Donelson đă nộp “Notice   of Appeal” lên Ṭa

      Phúc Thẩm.

 

14. Ngày December 13, 2004, Toà Phúc Thẩm [Court of Appeal] đă gửi Notice of Docket Entry và cho nguyên đơn nộp Brief vào ngày  January 18, 2005. 

 

15. Ngày March 17, 2005,  3 Luật Sư đại diện nhóm nguyên đơn đă nộp Brief of Appellants (Bác bỏ phán quyết của Toà Superior) lên Toà Phúc Thẩm (Court of Appeal)

 

16. Ngày June 20, 2005 trường đại học đă nộp Brief for Appellee xin Toà Phúc Thẩm xác nhận phán quyết của Toà Superior

 

17. Ba luật Sư: Marlene J. Bidelman, James C. Duff va Bradley S. Clanton thuộc Tổ Hợp Luật Sư Baker, Donelson, Bearman, Caldwell & Berkowitz  đă nộp Reply Brief of Appellants (chứng minh sai lầm của Brief for Appellee của đại học khi xin Toà xác nhận phán quyết của bà Chánh Án Janet Sanders.)

 

Sau 3 lần nộp briefs của hai bên nguyên và bị, thủ tục kết thúc ở đây để đợi phiên “hearing” do 3 chánh án chủ toạ để quyết định vụ kiện.  Nếu bên nguyên đơn thắng, Toà Phúc Thẩm sẽ chuyển hồ sơ xuống Toà Superior để mở phiên xử.  Nếu bên nguyên đơn thua th́ việc chống án lên Toà Tối Cao (Supreme Court)  sẽ được thực hiện ngay.

                                               

* *

 

TÀI LIỆU DẪN CHỨNG

 

 

 

 



 

[1]   University of Masachusetts Boston,  Rockefeller Foundation Humanities Fellowship -   UMass Boston Program Plan” MA 02125,    1999     p. 1

 

 

[2] Dương Thành Lợi “Boat People   Optimal World Publishers   Boston Toronto, First Published 2000,  p.743

 

 

[4]   Murray Hiebert/Boston  United States: The War That Won’t Go Away”   Far Eastern Economic Review,  November 20, 2000,  Review  Publishing Company  Limited, Hong Kong

 

[5] University of Massachusetts Boston, “A Conceptual Essay for the 1999 Rockefeller Foundation Humanities Fellowship.”   MA 02125, 1999    p.1

 

 

[6]  Marcella Bombardieri, Globe staff  Battle Lines Remain”  The Boston Globe   October 26, 2000   Boston, Massachusetts

 

[7]  Suffolk Superior Court, the lawsuit against WJC/UMB, Docket No: CA 01-4507 E,  Copies of documents supplied by the UMB   “ Đề cương nghiên cứu của Hoàng Ngọc Hiến”

 

[8]        -như trên-

 

[9]  Suffolk Superior Court, the lawsuit against WJC/UMB, Docket No: CA 01-4507 E, Deposition of  Dr. Kevin J. Bowen Volume II,  p.  107 - 109

 

 

[10] University of Massachusetts Boston, “A Conceptual Essay for the 1999 Rockefeller Foundation Humanities Fellowship.”   MA 02125, 1999    p.4

 

 

[11]  University of Masachusetts Boston,  Rockefeller Foundation Humanities Fellowship -   UMass Boston Program Plan” MA 02125,    1999     p.5

 

[12]  University of Masachusetts Boston,  Rockefeller Foundation Humanities Fellowship -   UMass Boston Program Plan” MA 02125,    1999     p.6

 

 

[13]  Nguyen Ba Chung  The Vietnam War and Vietnam”,  American Experience/Vietnam Online/Reflections on War/ PBS  http://www.pbs.org/wgbh/amex/vietnam/reflect/chung.html   9/10/2005

 

 

[14] VietBao Online  08/16/1999 “Cộng Sản Việt Nam Ra Tạp Chí Ngoại Ngữ Về Văn Chương Việt Nam” VNN – NET,   1999  Santa Ana, CA 92703

 

[15] Trần  Văn Thuỷ  Nếu đi Hết Biển”  Thời Văn,  Garden Grove - California,  2004, trang 83

 

 

* *


Back