UẨN KHÚC CỦA VỤ KIỆN TẠI TOÀ SUPERIOR

 

Sau khi được sự đồng ư và yểm trợ của Cộng Đồng Việt Nam Hoa Kỳ về việc đưa vụ WJC/UMB ra trước ṭa án th́ thời gian có hiệu lực để kiện chỉ c̣n không quá hai tuần lễ, do đó vụ kiện phải được xúc tiến ngay vào ngày 26 tháng 10 năm 2000 với một nguyên đơn là Nguyễn Hữu Luyện Sau đó vụ kiện được chuyển thành class action với 12 nguyên đơn.  Luật Sư James P. Keane đại diện nguyên đơn đă làm dúng thu tục, trước hết nộp hồ sơ vào Hội đồng Bài Trừ Kỳ Thị (MCAD), sau khi có nhận xét của MCAD,  Luật sư James P. Keane đưa ngay vụ WJC/UMB vào Toà Superior tại Quận County, thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts. (Civil Docket number 01 – 4507 E). 

 

* * *

 

THỨ TỰ THỜI GIAN CỦA CÁC  VĂN KIỆN

 

 

1.   Lịch tŕnh tiến hành vụ kiện WJC/UMB do toà án xếp loại F. Các vụ kiện về kỳ thị và các vụ kiện có nguyên đơn trên 65 tuổi, theo luật của tiểu bang Massachusetts, được xếp loại F (Fast = Nhanh) nghĩa là được ưu tiên xét xử trước những vụ kiện xếp loại A (A=Average=B́nh thường).

Re:   Commonwealth of MassachusettsCounty of Suffolk  -  The superior Court -  Civil

         Docket number 01 – 4507 E.  Dated 10/09/2001

         Michael Joseph Donovan  -  Clerk of Courts – By  Elaine R. Lombardi – Assistant clerk    

Xem tài liệu tham khảo số 1

                                                          

2.  Hồ sơ khởi tố của 12 nguyên đơn nạp Hội Đồng Bài Trừ kỳ Thị (M.C.A.D.) ngày 18 tháng 4 năm 2001. Hội Đồng Bài trừ Kỳ Thị đă phê bác bỏ và kư dưới MCAD Docket number 00133252 Đây là một thủ tục hành chính của ngành Tư Pháp.  Sau khi có quyết định của MCAD, nguyên đơn mới được đệ đơn kiện vào Toà Án, dù MCAD xác nhận hay bác bỏ cũng không ảnh hưởng ǵ tới việc xét xử của Toà Án.

Re:     Commonwealth of Massachusetts  -  Commission Against Discrimintion 

           Dated May 23-2001 -  Lynn Milinazzo-Gaudet, Attorney investigation

                                                           

           Commonwealth of Massachusetts  -  Commission Against Discrimintion 

           MCAD Docket number  00133252

                        Xem tài liệu tham khảo số 2

Vậy mà trong phán quyết bác bỏ vụ kiện, Chánh Án Janet Sanders viết:

“Ṭa chỉ lưu ư một cách đơn giản rằng những lư đoán này cung cấp những cơ sở   chọn lựa để Toà đi đến kết luận rằng vụ kiện này không thể được tiến hành thêm nữa. Cụ thể như, ngoại trừ Nguyễn Hữu Luyện, không có ai trong nhóm nguyên đơn nạp đơn khiếu tố với MACD”.  

                                      

3.  Trong khi WJC/UMB thông cáo chính thức việc tuyển chọn ông Hoàng Ngọc Hiến và ông Nguyễn Huệ Chi từ Viêt Nam cùng với lư lịch, chức vụ trong guồng máy của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Trong hồ sơ của vụ kiện có bản sao giấy thông hành (pass port) của hai ông Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi do nhà nước Cộng Sản Việt Nam cấp. Xin xem các chi tiết này trên liên mạng của WJC/UMB (http://omega.cc.umb.edu/~diaspora/diasTieuSu01E.html) . Ngoài ra chính Tiến Sĩ Kevin Bowen, Giám Đốc WJC cũng xác nhận với báo chí Mỹ ( Marcella Bombardieri, Globe staff  Battle Lines Remain”  The Boston Globe  October 26, 2000, Boston, Massachusetts) rằng chỉ có một ḿnh ông Hoàng Ngọc Hiến là đảng viên đảng Cộng sản thôi, c̣n ông Nguyễn Huệ Chi th́ không phải là đảng viên. Vậy mà trong phán quyết bác bỏ vụ kiện, Chánh Án Janet Sanders lại viết như sau

Quan điểm trọng tâm trong vụ kiện của nhóm nguyên đơn là, bởi v́ họ là người gốc gác ở miền Nam Việt Nam có xuất xứ khác biệt với những người di dân đến Hoa Kỳ từ miền Bắc. Với việc tuyển chọn những di dân có gốc gác từ miền Bắc, có dính líu đến chế độ Cộng Sản, các bị cáo đă (được cho rằng) có hành động kỳ thị chống lại nhóm nguyên đơn một cách bất hợp pháp. 

Re:       Commonwealth of MassachusettsCounty of Suffolk  -  The superior Court -  Civil

            Docket number 01 – 4507 E.

            Memorandum of Decision and Order on Defendant’s Motion to Dismiss

            Janet T. Sanders  -  Justice of the  Superior Court  -  Dated August 27, 2004

                        Xem tài liệu tham khảo số 3

 

4.  Ngày 11 tháng 9 năm 2002, Chánh Án Judith Fabricant kư lệnh mở phiên họp để thảo luận việc giải quyết bên ngoài Toà Án giữa hai bên và duyệt lại vụ kiện để định ngày xét xử. 

Re:  Commonwealth of MassachusettsCounty of Suffolk  -  The superior Court -  Civil

        Docket number 01 – 4507 E.

        Order and Notice to Appear for Screening Conference  -  Dated 09/11/2002 -  By the Court

        (Judith Fabricant, Justice)   -  Judia Robillard  -  ADR  Screener

                        Xem tài liệu tham khảo số 4

 

5.   Tiếp theo đó là thư của Luật Sư Keane đề ngày 4 tháng 10 năm 2002 thông báo rằng Toà Án chỉ định ngày tiền nghị án (pre trial) là 19 tháng 11, 2002.  Đây là phiên họp giữa Chánh Án và Luật sư hai bên để quyết định ngày nào thuận tiện cho cả hai bên sẽ được chọn  để mở phiên Toà xét xử chính thức.

Re:   Mr. James P. Keane’s Letter to the Vietnamese American Community, dated October 4, 2002

                        Xem tài liệu tham khảo số 5

                                               

6.   Điên thư của LS Keane đề ngày 19 tháng 11, năm 2002 báo tin Chánh Án bị bệnh nên hoăn hop tiền nghị án, và mời nguyên đơn Nguyễn Hữu Luyện tới họp tại văn pḥng của Lawfirm, điện thư viết : “Chúng ta sẽ thảo luận về khúc ngoặt của vụ kiện này khi tôi gặp ông [Luyen].  Hiện tại, phía bị cáo đang t́m cách giải quyết bên ngoài toà án.  Tôi cần gặp ông để thảo luận việc này, sau đó chúng ta sẽ gửi cho các nguyên đơn khác để duyệt lại.”  

Re:  E-mail:   From    KeaneKlein@aol.com

                       To:       luyenn@hotmail.com

                       Dated:  19 Nov. 2002    10:59:59 EST

Cho tới ngày 19 tháng 11 năm 2002 vụ kiện thật là vững vàng về mặt pháp lư. Chánh Án Judith  Fabricant quyết định đưa vụ kiện này ra xét xử với tư cách class action – nguyên đơn có tư cách pháp lư để đại diện cho tất cả những người Mỹ gốc Việt chịu chung những thiệt hại do WJC/UMB gây ra. Khi người viết tới văn pḥng Luật Sư Keane để thảo luận, Luật Sư Keane nêu lên mấy vấn đề, quan trọng hơn cả là vấn đề WJC/UMB sẽ bồi thường 250 ngàn Mỹ kim và một thư xin lỗi. Phía nguyên đơn từ chối v́ mong muốn vụ kiện phải được đem ra xét xử để đạt mục đích vô hiệu hoá chương tŕnh nghiên cứu hoàn toàn không trung thực này. 

                        Xem tài liệu tham khảo số 6

 

7. Cũng trong ngày 19 tháng 11 năm 2002, Luật Sư Keane c̣n gửi một thư qua đường bưu điện, nội dung thư cho biết ngày tiền nghị án bị hoăn lại tới 16 tháng 12, năm 2002 và báo tin là WJC/UMB đă xin Toà cho đổi vụ kiện từ loại F xuống loại A.  Nhưng Luật Sư Keane  đoan chắc rằng việc này không ảnh hưởng tới vụ kiện v́ theo luật th́ các vụ kiện về kỳ thị phải được xét xử sớm, và cũng theo luật th́ nguyên đơn trên 65 tuổi cũng được ưu tiên xét xử sớm.

                        Xem tài liệu tham khảo số 7

 

8.  Thư của Luật Sư Keane đề ngày 2 tháng 1 năm 2003 cho biết lịch tŕnh 5 điểm của Chánh Án Burnes, trong đó điểm số 1 là buộc nguyên đơn phải xin Toà xác nhận tư cách class action của ḿnh. Điểm thứ hai là đưa các nguyên đơn về Massachusetts để bị cáo lấy deposition. Điểm thứ ba là hoàn tất việc điều tra vào ngày 15 thang 5 năm 2003. Điều thứ tư là đệ tŕnh Toà Án các chi tiết cần xét xử và biện luận của nguyên đơn.  Điểm thứ năm là ngày tiền nghị án được chỉ định là 1-8-2003, trong phiên họp này sẽ chọn ngày xét xử. 

Nh́n văn thư này có thể thấy ngay rằng điểm thứ nhất nhằm tạo lư do để bác bỏ class action v́ vị Chánh Án trước đă nh́n nhận class action nên mới quyết định ngày tiền nghị án và cho lệnh hai bên nguyên và bị phải giải quyết vấn đề nếu không Toà sẽ chọn ngày lập phiên xét xử ( Tài Liệu Tham Khảo số  4) Sau khi bác bỏ class action rồi, bốn điểm c̣n lại trong lịch tŕnh năm điểm của Chánh Án Burnes đi vào quên lăng: “hiện tượng” này cho biết v́ sao bị cáo xin hoăn tới hai lần liên tiếp sau khi Chánh Án Judith Fabricant quyết định đem vụ kiện này ra xét xử với tư cách class action. V́ Toà Án của tiểu bang Massachusetts lập sẵn một panel để các vị Chánh Án luân phiên làm việc, mỗi vị hai tháng.  Công việc dang dở từ vị Chánh Án trước để lại, vị Chánh Án kế tiếp sẽ giải quyết theo phương hướng của vị Chánh Án trước đă vạch ra.  Đó là “luật không thành văn” đă lâu đời rồi.  Nhưng trong vụ kiện này th́ “đạo luật không thành văn” đó đă bị đảo lộn.  V́ mỗi lần xin hoăn là đương nhiên vấn đề đó phải rơi vào tay vị Chánh Án khác.  Qua cái panel do Toà Án đă lập ra, bên nguyên cũng như bên bị đều có thể chọn chánh án  để xét xử vụ của ḿnh bằng cách xin hoăn xử chờ cho tới đúng phiên  của vị chánh án đó.

                        Xem tài liệu tham khảo số 8

 

9. Ngày 29 tháng 5 năm 2003, Luật Sư Keane báo tin là Chánh Án Janet Sander đă bác bỏ class action, v́ các nguyên đơn khác ngoài Nguyễn Hữu Luyện ra, không có ai là cư dân của tiểu bang Massachusetts nên không được khởi tố theo class action tại Massachusetts. 

Re: Remarks of Judge Janet T. Sanders dated  5/4/03

 

Lá thư này có hai điểm đặc biệt: Một là lời lẽ trong thư rất tiêu cực, ngược hẳn lại với lá thư đề ngày 4 tháng 10 năm 2002 (Tài Liệu Tham Khảo số 5) viết một tháng trước ngày nguyên đơn từ chối việc giải quyết bên ngoài Toà Án.  Hai là Luật Sư Keane giải thích nguyên nhân bác bỏ class action khác hẳn với bút phê của Chánh Án Janet Sanders đă viết và kư tên.

 

Trở lại vấn đề WJC/UMB đề nghị bồi thường 250 ngàn Mỹ Kim và thư xin lỗi viết trong tiểu mục 6. Mặc dầu Luật Sư Keane rất thận trọng nhắc nhở người viết là phải tuyệt đối giữ bí mật cho tới khi hai bên thoả thuận một số chi tiết kèm theo.  Nhưng người viết đă làm một việc sai lầm nghiêm trọng là loan báo trước dư luận ngay sau khi từ chối.  Khi sự việc được dư luận bàn tán th́ ông Nguyễn Ba Chung, Giám Đốc chương tŕnh lên tiếng thanh minh là UMB không hề nêu lên vấn đề giải quyết bên ngoài toà án và Luật Sư Keane xác nhận là bị cáo không hề nói tới vấn đề giải quyết bên ngoài Toà Án. Trong lúc ngồi nói chuyện với người viết, Luật Sư Keane cũng nói như vậy một cách rất thản nhiên,  với một vẻ rất là thật. Người viết cố trấn tĩnh và nh́n thẳng vào mắt Luật Sư Keane, không hề thấy một nét bối rối, hổ thẹn nào xuất hiện trên khuôn mặt của ông.  Người viết trở thành nạn nhân của sự thật, một phần dư luận tin vào người viết, một phần khác của dư luận tin lời thanh minh của WJC/UMB v́ có sự xác nhận của Luật Sư Keane.  Tới thời gian này th́ Luật Sư đă đứng hẳn về phía bị cáo rồi.  Vấn đề bồi thường 250 ngàn Mỹ  kim và thư xin lỗi chỉ là lời nói miệng trong lúc thảo luận nên Luật Sư Keane có thể chối bỏ được, nhưng c̣n vấ đề bị cáo muốn giải quyết bên ngoài Toà Án, nếu Luật Sư Keane khôn ngoan hơn, ông không nên chối bỏ, v́ điện thư là một chứng tích không thể chối bỏ. Mỗi điện thư đều có ghi IP của người gửi th́ làm sao Luật Sư Keane có thể chối bỏ được?  Bức điện thư này là Tài Liệu Tham Khảo ở tiểu mục số 6.

 

Bản thân người viết đă phạm sai lầm v́ loan báo lời nói của Luật Sư Keane khi đă quyết định từ chối việc giải quyết bên ngoài Toà Án.  Lư do từ chối là v́ hoàn toàn tin tưởng vào thế mạnh của vụ kiện mà Luật Sư Keane đă tạo ra, và v́ người viết đang theo đuổi ước mơ thắng lợi, số tiền bồi thường sẽ  đủ để cống hiến cho một đại học có uy tín để thực hiện một chương tŕnh nghiên cứu hoàn toàn trung thực và vô tư về người Việt tỵ nạn Cộng Sản và thời kỳ hậu tỵ nạn (post refugee era) để lưu laị trong kho tàng văn học sử chẳng những của Hoa Kỳ mà c̣n của thế giới nữa, những h́nh ảnh trung thực  của một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt của Việt Nam, những h́nh ảnh khủng khiếp của nửa triệu người đă chết trên đường đi t́m tự do, những vinh nhục của người sống sót, những thành công huy hoàng của thế hệ con cháu gia đ́nh tỵ nạn . . .  Nhóm nguyên đơn theo đuổi mục đích chung của Cộng Đồng là “bảo vệ căn cước đích thật của thế hệ tỵ nạn Cộng Sản và vị trí lịch sử của ba triệu người Việt đă phải lao vào cái chết để đi t́m  cuộc sống tư do.

 

Vài tuần lễ trước khi có phán quyết bác bỏ class action, Luật Sư Keane cũng hé mở cho nguyên đơn biết là class action có thể bị bác bỏ.  Người viết đă nói với Luật Sư Keane là trong t́nh h́nh bất lợi như vậy, chúng tôi muốn ông đổi class action thành 10 hồ sơ cá nhân và tiếp tục kiện WJC/UMB với cùng một lư do như trước.  Đây là yêu cầu chính thức của các nguyên đơn.  Về tiền bạc th́ nguyên đơn đă để tiền ‘retainer’ đủ 100 ngàn Mỹ kim đúng theo hợp đồng.

                        Xem tài liệu tham khảo số 9

 

10.  Ngày 29 tháng 5, năm 2003 Luật Sư Jmes P. Keane viết thư gửi các nguyên đơn, báo tin class action đă bị Chánh Án Janet T. Sanders bác bỏ, do đó tất cả các nguyên đơn, ngoại trừ nguyên đơn Nguyễn Hữu Luyện, không c̣n là thành viên của vụ án nữa.Lá thư này đă để lộ toàn bộ kế hoạch “xoá xổ” vụ kiện một cách tinh vi ngay sau khi việc điều đ́nh không thành.  V́ Luật Sư Keane đă tự ư gạt chín nguyên đơn cư ngụ bên ngoài tiểu bang Massachusetts ra khỏi vụ kiện. 

Sự thực là Toà Án chỉ bác bỏ class action thôi, không hề bác bỏ quyền của công dân Hoa Kỳ tại các tiểu bang khác khởi tố Đại Học Massachusetts Boston tại tiểu bang Massachusetts.  Bằng chứng là ngay ngày hôm sau khi nhận bàn giao hồ sơ vụ kiện, hai Luật Sư mới tŕnh diện Toà Án để làm thủ tục đại diện cho 10 nguyên đơn, tiếp tục vụ kiện với 10 nguyên đơn, không hề phải xin phép Toà Án về việc này.

 

Sau khi loại bỏ 9 nguyên đơn cư trú bên ngoài tiểu bang Massachusetts, Luật Sư Keane đoan chắc là người viết ra Toà một ḿnh th́ sẽ thắng, và ông thúc giục người viết gặp Luật Sư của bị cáo, làm bản khai hữu thệ (deposition) để hoàn tất thủ tục cho phiên Toà xét xử sắp tới. Người viết đă được mở mắt sau cơn u mê đau đớn và vết đau đang c̣n tê tái ê chề nên đă tỉnh táo giải quyết và đă phải xin hoăn ngày gặp Luật Sư của bị cáo để làm bản khai hữu thệ, rồi chạy khắp nơi t́m Luật Sư thay thế Luật Sư Keane để cứu văn vụ kiện.   Tới bước đường cùng này th́ một nguyên đơn là ông Bùi Diễm, nguyên là Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ, quen biết lâu năm với Tổ Hợp Luật Sư Baker, Donelson, Bearman, Caldwell & Berkowitz, có văn pḥng chính tại Washington D.C. nên mời Tổ Hợp Luật sư này nhận trách nhiệm đại diện nguyên đơn.  Vụ kiện được hồi sinh và đang chờ phán quyết của  Toà phúc Thẩm (Court of Appeal)

 

Đúng 15 tháng sau ngày Chánh Án Janet Sander bác bỏ tư cách class action của nhóm nguyên đơn th́ cũng Chánh Án Janet Sanders trở lại với vụ kiện này.  Người viết  hoàn toàn không biết đây là theo chu kỳ luân phiên của danh sách (panel), hay là v́ một nguyên nhân nào khác.  Chính người viết đă nói với Luật Sư [mới] Bradley S. Clanton là phải xin đổi Chánh Án v́ những sự việc đă xẩy ra trước đây, và theo luật th́ cả hai bên nguyên và bị đều có quyền làm như vậy, nhưng Luật Sư Clanton mới thay Luật Sư Keane đưa ra ư kiến là không nên chọc giận Chánh Án Janet Sanders và kết qủa là Chánh Án Janet Sanders đă không quan tâm ǵ đến sự thật, viết phán quyết dá tám trang sai sự thật để bác bỏ vụ kiện.

 

Người viết có đủ bằng chứng để đi tới chỗ phân định phải trái về hành động của Luật Sư Keane, nhưng đă không làm, phần v́ không đủ tiền và không đủ lực để mở  thêm một vụ kiện nữa, và phần th́ c̣n nghĩ tới tấm ḷng và công lao của  Luật Sư Keane đối với vụ kiện này trước khi ông ta quay ngược hướng đi. Cho tới nay, người viết vẫn c̣n thầm cảm ơn ông đă tạo thế mạnh, rất mạnh cho vụ kiện này cho tới ngày 19 tháng 11 năm 2002 là ngày bị cáo t́m kiếm giải pháp giải quyết bên ngoài Toà Án. Bản thân người viết vẫn thường tự hỏi “Phải chăng người viết đă phạm sai lầm nghiêm trọng khi từ chối điều đ́nh bên ngoài Toà Án và loan báo tin này khi Luật Sư Keane đă thận trong căn dặn là không được tiết lộ trước khi có thoả thuận về một số chi tiết kèm theo?”  

 

Qua sáu năm dài theo đuổi vụ kiện, sự hiểu biết của người viết trong lănh vực này đă trở nên phong phú dầy dạn. Nhưng cũng xin thú nhận rằng có nhiều trường hợp “chỉ  khôn khi sự đă rồi”. Sự thật là người viết không có kinh nghiệm nên không kịp thời nh́n thấy công lao của Luật   Keane đă tạo được thế mạnh cho vụ kiện và dựa vào thế mạnh đó để t́m ra một giải pháp có lợi nhất mà khả năng của một luật sư có thể làm được cho vụ kiện mà ông có trách nhiệm đại diện.  Nhưng có hai điều rất đáng tiếc: Một là người viết không thể đi theo con đường mà Luật Sư Keane đă mất nhiều công sức để đạt tới, hai là người viết không hiểu được giới hạn mà Luật Sư đại diện của ḿnh có thể đạt được, có lẽ điều mong muốn của người viết vượt quá tầm vóc của Luật Sư Keane nên đă khiến ông phải đổi hướng 180 độ để kết thúc vấn đề giống như các chính khách ngoại giao của các siêu cường, khi gặp một đồng minh nào đó, không c̣n thích hợp với kế hoạch và lợi ích của họ nữa th́ họ phải lạnh lùng gạt bỏ hoặc tiêu diệt ngay,  dù mới hôm qua c̣n là đồng minh thắm thiết của họ, nhưng v́  hôm nay họ có con đường khác để đi!

 

Back